vanban.org

Bản án 87/2025/HSST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 11/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành N và Võ Anh T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/12/2024. Xử phạt Võ Anh T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/12/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành Nam - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành N và Võ Anh T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2025/HS-ST
Ngày: 11/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Triều Châu.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quang và ông Doãn Đức Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đoàn Bích Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

- Đại diện VKSND huyện Trảng Bom - tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Phạm Hữu Tình -Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở TAND huyện Trảng Bom, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 75/2025/ TLST-HS ngày 18/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2025/QĐXX-HS ngày 27/3/2025 đối với các bị cáo:

- Nguyễn Thành N, sinh năm 1981 tại tỉnh Nam Định. HKTT: 56/14 đường N, phường V, TP ., tỉnh Nam Định.Nơi cư trú: không có nơi cư trú ổn định. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Viết K và bà Hoàng Thị Thanh V; Có vợ: Phạm Thị P (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2009; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 01/8/2023 bị TAND thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian là 18 tháng. Nguyễn Thành N bỏ đi khỏi địa phương, chưa chấp hành. Nhân thân:

+ Ngày 19/9/2001 bị TAND thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;

+ Ngày 19/6/2003 bị TAND thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

+ Ngày 09/9/2009 bị TAND thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;

+ Ngày 30/3/2012 bị TAND thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 37 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

+ Ngày 17/10/2005 bị Chủ tịch UBND tỉnh N ra Quyết định áp dụng đưa vào cơ sở giáo dục (cai nghiện ma túy bắt buộc).

+ Ngày 29/01/2016 bị Chủ tịch UBND huyện H, thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bị cáo bị giam giữ từ ngày 06/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

- Võ Anh T, sinh năm 1993 tại thành phố Hồ Chí Minh. HKTT: 24/15, T, phường A, quận P, TP ..Nơi cư trú: 16/3, ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Võ Hai và bà Nguyễn Thị L; Có vợ: Nguyễn Thị Kim L1, có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 21/5/2012 bị TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 năm tù về tội Cố ý gây thương tích. Bị cáo bị giam giữ từ ngày 06/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

- Bị hại: Công ty cổ phần C chi nhánh thành phố H tại xã C, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Ngọc T1, sinh năm 1986; Địa chỉ: Khu phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt)

- Người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan: Ông Hà Thọ Đ, sinh năm 1975; Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Thành N, là người nghiện ma túy, sống lang thang. Vào ngày 30/11/2024, N đi đến khu vực rẫy chuối thuộc tổ A, ấp C, xã C, huyện T, tỉnh Đồng Nai phát hiện Trạm thu phát sóng BTS của công ty cổ phần C chi nhánh thành phố H không có người trông coi bảo vệ, N đến gần thấy cánh cửa đã bị bẻ cong ở phía dưới tạo ra khoảng khe hở khoảng 30cm, N nhìn vào trong thấy có 02 cục lạnh của máy lạnh đã bị tháo xuống để dưới nền nhà, N nảy sinh ý định trộm cắp, nhưng do không có xe để chở nên N đi về. Khoảng 09 giờ sáng ngày 01/12/2024, N rủ Võ Anh T là bạn cùng nghiện ma túy tham gia trộm cắp 02 cục lạnh máy lạnh trên để bán lấy tiền tiêu xài, thì T đồng ý. T điều khiển xe mô tô biển số 60Z7-5470 chở N đi đến Trạm thu phát sóng BTS ở xã C, T dùng tay kéo cong cửa Trạm thu phát sóng để N chui vào lấy 02 cục lạnh của máy lạnh nhãn hiệu REETECH, loại 01 HP đưa ra ngoài, sau đó T điều khiển xe mô tô chở N ngồi sau ôm 02 cục lạnh của máy lạnh vừa trộm cắp đến điểm thu mua phế liệu tại đường L, khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai do ông Hà Thọ Đ, làm chủ, N và T bán 02 cục lạnh của máy lạnh trên cho ông Đ được 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng), N và T chia nhau mỗi người 250.000 đồng.

Ngày 02/12/2024, ông Phạm Ngọc T1, là người quản lý Trạm thu phát sóng BTS của công ty cổ phần C chi nhánh thành phố H tại xã C phát hiện bị mất trộm 02 cục lạnh của máy lạnh nhãn hiệu REETECH, loại 01 HP, bộ ổn áp, bình ắc quy và dây điện trong Trạm thu phát sóng nên đã đến Công an xã C trình báo.

Tiến hành điều tra ngày 06/12/2024, Công an xã C đưa 02 đối tượng Nguyễn Thành N và Võ Anh T về làm việc, N và T đã khai nhận hành vi trộm cắp 02 cục lạnh của máy lạnh nhãn hiệu REETECH, loại 01 Hp tại Trạm thu phát sóng BTS của Công ty cổ phần C chi nhánh thành phố H tại ấp C, xã C (N và T không nhận trộm cắp bộ ổn áp, bình ắc quy và dây điện). Công an xã C tiến hành làm việc với ông Đ thì ông Đ xác nhận vào ngày 01/12/2024 có mua của N và T 02 cục lạnh máy lạnh nêu trên, ông Đ đã giao nộp 02 cục lạnh máy lạnh trên cho Công an xã thu giữ. Công an xã C lập hồ sơ ban đầu và chuyển giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện T để điều tra theo thẩm quyền. * Vật chứng thu giữ, gồm:

- 02 cục lạnh máy lạnh nhãn hiệu Reetech, loại 1Hp.

- 01 cục nóng máy lạnh nhãn hiệu Chigo.

- 01 cục nóng nhãn hiệu Sumikuma.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, biển số 60Z7 – 5470, Số máy: JC52E – 4142957, Số khung: RLHJC2516CY387822.

Ngày 09/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T định giá tài sản đối với: 02 cục lạnh của máy lạnh nhãn hiệu Reetech, loại 1Hp mà N và T trộm cắp. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 130/KL-HĐĐGTS, ngày 13/12/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận: 02 cục lạnh của máy lạnh nhãn hiệu Reetech, loại 1Hp (đã qua sử dụng) trị giá 3.600.000 đồng (Bút lục số: 172-177).

Ngày 17/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thành N và Võ Anh T để điều tra. Quá trình điều tra N và T đã khai nhận hành vi trộm cắp như trên (Bút lục số: 70-78; 95-105).

Tại cáo trạng số 94/CT-VKSTB, ngày 14/3/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thành Nam và Võ Anh Tài về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và không có ý kiến gì về bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Nguyễn Thành N và Võ Anh T về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

- Xét về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu; Bị cáo N, có 01 tiền sự, cụ thể: Ngày 01/8/2023 bị TAND thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian là 18 tháng. Nguyễn Thành N bỏ đi khỏi địa phương, chưa chấp hành.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây hậu quả không lớn quy định tại: Điểm h và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối với ông Hà Thọ Đ khi mua 02 cục lạnh máy lạnh do N và T mang đến bán, ông Đ không biết tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Về mức hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Bị cáo Võ Anh T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

* Về xử lý vật chứng:

- Đối với 02 cục lạnh máy lạnh nhãn hiệu Reetech, loại 1Hp là tài sản của công ty cổ phần C chi nhánh thành phố H bị N và T trộm cắp. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu.

- Đối với 01 cục nóng máy lạnh nhãn hiệu Chigo và 01 cục nóng nhãn hiệu Sumikuma do Công an xã C thu giữ của ông Hà Thọ Đ, 02 cục nóng máy lạnh này do ông Đ mua của 02 người thanh niên không rõ lai lịch, mục đích để buôn bán phế liệu, không liên quan đến hành vi phạm tội của N và T. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại cho ông Đ.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, biển số 60Z7 – 5470, Số máy: JC52E – 4142957, Số khung: RLHJC2516CY387822 của Võ Anh T, quá trình điều tra bị cáo T khai đã mua chiếc xe trên của đối tượng nghiện ma túy không rõ lai lịch, không rõ nguồn gốc xe, khi mua xe không có giấy đăng ký. Cơ quan điều tra tiến hành tra cứu dữ liệu về đăng ký xe máy tại Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện T, kết quả:

+Biển số 60Z7 – 5470 được cấp cho xe mô tô nhãn hiệu CLICK, số máy: VHLFM152FMHV00300806, số khung: RMNDCH6MN9H000806. Chủ xe là Thạch Thị Xô P1, sinh năm 1988, HKTT: ấp A, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với chị P1, được chị P1 cho biết năm 2010 chị P1 có mua và đăng ký sở hữu chiếc xe trên, đến năm 2012 chị P1 đã bán chiếc xe trên cho người không rõ tên và địa chỉ, từ đó đến nay chị P1 không có thông tin gì về người sử dụng xe.

+Xe mô tô nhãn hiệu Honda, số máy: JC52E – 4142957, số khung: RLHJC2516CY387822. Biển số được cấp là 60B8 – 196.24, chủ xe là Nguyễn Thị Kiều T2, sinh năm 1982, HKTT: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với chị T2 được chị T2 cho biết năm 2012 chị T2 có mua và đăng ký sở hữu chiếc xe trên. Vào khoảng 18 giờ 40 phút ngày 25/10/2024 chị T2 sử dụng chiếc xe trên đến nhà ông Nguyễn Tất V1, sinh năm 1953, trú tại số H đường số E, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (là cha của chị T2) và để xe ở ngoài cổng, khi chị T2 quay ra thì phát hiện bị mất xe, sau khi mất xe chị T2 không trình báo với Công an xã B. Cơ quan điều tra đã xác minh tại Công an xã B, do khi xảy ra mất trộm xe, chị T2 không trình báo nên Công an xã B không có thông tin về vụ mất trộm trên.

Cơ quan điều tra tách vật chứng đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, số máy: JC52E – 4142957, số khung: RLHJC2516CY387822 (hiện đang gắn biển số giả 60Z7 – 5470) và nguồn tin về tội phạm Trộm cắp tài sản, xảy ra ngày 25/10/2024, tại ấp T, xã B để tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định của pháp luật (Bút lục số: 168-171).

* Về dân sự:

+ Ngày 24/01/2024, anh Phạm Ngọc T1, là đại diện công ty cổ phần C chi nhánh thành phố H đã nhận lại 02 cục lạnh máy lạnh nhãn hiệu Reetech bị mất trộm và không yêu cầu dân sự trong vụ án.

+ Ông Hà Thọ Đ đã nhận lại 01 cục nóng máy lạnh nhãn hiệu Chigo và 01 cục nóng nhãn hiệu Sumikuma, ông Đ không yêu cầu dân sự trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo và bị hại không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Thực tế có cơ sở chứng minh, vào khoảng 09 giờ, ngày 01/12/2024, tại Trạm thu phát sóng BTS của Công ty cổ phần C Chi nhánh thành phố H thuộc ấp C, xã C, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thành N và Võ Anh T đã thực hiện hành vi trộm 02 cục lạnh máy lạnh nhãn hiệu Reetech, loại 1Hp (Đã qua sử dụng), trị giá 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm ngàn đồng). Nên có cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Thành N và Võ Anh T phạm tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều có nhân thân xấu. Bị cáo N có 01 tiền sự, cụ thể: Ngày 01/8/2023 bị TAND thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian là 18 tháng. Nguyễn Thành N bỏ đi khỏi địa phương, chưa chấp hành. Xét về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây hậu quả không lớn quy định tại các điểm h và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra tách vật chứng đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, số máy: JC52E – 4142957, số khung: RLHJC2516CY387822 (hiện đang gắn biển số giả 60Z7 – 5470) và nguồn tin về tội phạm Trộm cắp tài sản, xảy ra ngày 25/10/2024, tại ấp T, xã B để tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định của pháp luật (Bút lục số: 168-171).

Về dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Xét đề nghị của đại diện viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành N và Võ Anh T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/12/2024.

- Xử phạt Võ Anh T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/12/2024.

2. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày. Người có mặt tính từ ngày tuyên án. Người vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ