- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh C16 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2025/HS-ST Ngày 29-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT,TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lục Kim Thanh;
2. Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hoàng Trung Tính- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Trần Duy Tôn- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh C năm 2003 tại tỉnh Bạc Liêu; nơi thường trú: ấp B, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêuchỗ ở hiện nay: khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị X; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 04/8/2017, bị Công an phường H, tỉnh Bạc Liêuxử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 31/7/2017. Bị cáo bị bắt từ ngày 06 tháng 12 năm 2024 đến ngày 15/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn C2đi khỏi nơi cư trú đến nay, bị cáo có mặt.
- Bị hại: bà Phan Thị T năm 1989 và ông Nguyễn Long H năm 1990; Cùng trú tại: ấp T, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu Chỗ ở hiện tại: Nhà T, đường N, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dươngvắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Nguyễn Văn C2 năm 1972; nơi cư trú: ấp B, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 9/2024, Nguyễn Minh C3 ở trọ tại phòng trọ số D, nhà T, cạnh đường N thuộc khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dươngđi làm thuê để sống.
Trong thời gian ở trọ tại đây, Nguyễn Minh C4 bà Phan Thị T1(sinh năm 1989, nơi thường trú: Ấp T, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêuở trọ tại phòng trọ số Fnhà trọ Đ chồng là ông Nguyễn Long H1(sinh năm 1990, nơi thường trú: Ấp T, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêuthường xuyên dựng xe mô tô hiệu ESPERO biển số: 94AF – 066.15 của bà T6 ông H2 hành lang cuối nhà trọ Đức ALúc này, C5 sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô biển số: 94AF – 066.xx đem bán lấy tiền tiêu xài và chơi trò chơi điện tử. Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 05/12/2024, C4 bà Phan Thị T2 xe mô tô biển số: 94AF – 066.xx ở hành lang cuối nhà trọ Đ không khóa xe rồi đi bộ đến Công ty TNHH P, Khu công nghiệp M thuộc phường M, thành phố B, xung quang vắng người nên C6 đến lén lủt dắt xe mô tô biển số: 94AF-066.15 vào phòng trọ số 04A, nhà trọ Đ giấu. Lúc này, Csử dụng điện thoại di động hiệu OPPO Reno 2F màu xanh chụp hình chiếc xe mô tô vừa trộm cắp được. Sau đó, Cdắt xe mô tô biển số: 94AF-066.xx đi ra đường N5 được khoảng 300m thì gặp người đàn ông (không rõ lai lịch) đang đi trên đường. Chuyển nói dối xe của C7 rơi mất chìa khoá thì được người đàn ông hướng dẫn Chuyển rút dây điện phía sau ổ khoá xe ra rồi đạp cần đạp để khởi động xe. Chuyển làm theo khởi động xe rồi điều khiển xe mô tô biển số: 94AF-066.xx đi đến khu vực C đây, Csử dụng điện thoại di động hiệu OPPO Reno 2F màu xanh nhắn tin qua mạng xã hội Facebook nói với người mua xe cũ tên “Bbán xe mô tô biển số: 94AF-066.xx không có giấy tờ với giá 1.800.000 đồng. Sau khi C8 hình xe qua mạng xã hội Zalo thì người tên “Bđồng ý mua xe và hẹn C9 khiển xe đi đến đường N thuộc khu phố A, phường H, thành phố B gửi vị trí cho người tên “B. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, C9 khiển xe mô tô biển số: 94AF-066.xx đi đến điểm hẹn thì gặp 02 người đàn ông (không rõ lai lịch) ngồi trên chiếc xe mô tô (không rõ biển số) chạy đến gặp CLúc này, C10 dối với 02 người đàn ông xe mô tô biển số: 94AF-066.xx của Chuyển bị mất giấy tờ, do cần tiền nên C11 bán với giá 1.800.000 đồng. Sau khi xem xe, 02 người đàn ông nói với C12 giá 200.000 đồng thì C13 ý bán xe mô tô biển số 94AF-066.xxvới giá 1.600.000 đồng cho 02 người đàn ông. Sau đó, C14 xài hết số tiền có được.
Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, bà Phan Thị T3 làm về phát hiện bị mất xe. Sau đó, bà T4 camera thấy C15 giống với đối tượng lấy trộm xe mô tô của mình nên trình báo Công an phường T làm việc. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bgiải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO Reno 2F màu xanh đen của Nguyễn Minh C16 01 (một) quần tây màu đen; 01(một) áo khoác màu xanh đen; 01 (một) đôi dép quay ngang màu đen của Nguyễn Minh C16
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Nguyễn Minh C17 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của C18 hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Kết luận định giá tài sản số: 153 ngày 13/12/2024 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B (một) xe mô tô hiệu ESPERO biển số: 94AF – 066.xx, số máy: VDEJQ139FMB7126695, số khung: RPENCBBPENA126695, đã qua sử dụng trị giá 11.030.000 đồng.
Xe mô tô hiệu ESPERO biển số: 94AF – 066.xx, số máy: VDEJQ139FMB7126695, số khung: RPENCBBPENA126695 là của bà Phan Thị T5 tên đăng ký, là tài sản chung của bà Phan Thị T6 ông Nguyễn Long H1
Về xử lý vật chứng: ngày 13/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát giao trả: 01 (một). quần tây màu đen; 01 (một)áo khoác màu xanh đen; 01 (một) đôi dép quay ngang màu đen cho Nguyễn Minh C16.
Về trách nhiệm dân sự: ông Nguyễn Văn C1(sinh năm 1972, noi thường trú : Ấp B, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêulà cha của Nguyễn Minh C17 bồi thường số tiền 11.000.000 đồng cho bà Phan Thị T6 ông Nguyễn Long H3 Phan Thị T6 ông Nguyễn Long H4 yêu cầu giải quyết gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Minh CÔng Nguyễn Văn C19 yêu cầu Nguyễn Minh C20 trả tiền lại.
Cáo trạng số: 86/CT-VKS-BC ngày 14/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố Nguyễn Minh C16 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng; đánh giá tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C16 mức án từ 07 đến 09 tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung váo ngân sách nhà nước đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO Reno 2F màu xanh đen của Nguyễn Minh C16 đã sử dụng vào việc phạm tội.
Bị cáo không tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội làm cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trông tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình chuẩn bị xét xử, bị hại vắng mặt, căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định.
Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, các biên bản hỏi cung bị can, lời khai bị hại, Kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 05/12/2024, tại nhà T, cạnh đường N thuộc khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Minh C17 có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) xe mô tô hiệu ESPERO biển số: 94AF – 066.xx, trị giá 11.030.000 đồng của bà Phan Thị T6 ông Nguyễn Long H5 Sau khi chiếm đoạt, C17 đem xe đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bị cáo Nguyễn Minh C16 đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi bị cáo thực hiện đã hội đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh, điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả xảy ra. Do vậy, cần xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường cho bị hại, bị hại cũng có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, mức hình phạt chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử quyết định mức phạt khác.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, ông Nguyễn Văn C21 cha của Nguyễn Minh C17 bồi thường số tiền 11.000.000 đồng là giá trị xe mô tô bị chiếm đoạt cho bị hại Phan Thị TNguyễn L HBà Tông Hkhông yêu cầu gì khác, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Minh C22 phiên tòa, ông Nguyễn Văn C19 yêu cầu bị cáo C20 hoàn trả lại số tiền ông bồi thường cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO Reno 2F màu xanh đen của Nguyễn Minh C16 sử dụng vào việc phạm tội (làm phương tiện liên lạc với các đối tượng mua xe mô tô mà bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại) nên Hội đồng xét xử sẽ tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh C16 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt: áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Minh C16 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt bị cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 06 tháng 12 đến ngày 15 tháng 12 năm 2024.
2. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO Reno 2F, màu xanh đen (mặt sau bị nứt, không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).
(Vật chứng được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Bvà Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương).
3. Án phí sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Minh C16 phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương (Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và Thi hành án); - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương; - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát; - Chi Cục Thi hành án Dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Người tham gia tố tụng (10); - Lưu: hồ sơ vụ án, VT, NTS, 30. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Sang |