- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thế T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Thế T phạm tội Cố ý gây thương tích.
- Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2025/HS-ST Ngày 16 – 5 - 2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Đinh Thị Phương Thúy
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Cầm Văn Tổ
2. Ông Nguyễn Đức Việt
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huế – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
VŨ THẾ T. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 06/3/1987 tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Tiểu khu A, thị trấn B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Xuân T1 (đã chết) và bà Vũ Thị M, sinh năm 1966; Bị cáo có vợ là Lương Thị Hồng N (đã ly hôn), bị cáo có 01 con sinh năm 2018.
Tiền án: Tại Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 09/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn đã xét xử Vũ Thế T 24 tháng cải tạo không giam giữ về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Vũ Thế T chưa chấp hành xong bản án.
Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt từ ngày 31/01/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Lương Thị Hồng N, sinh năm 1986. Địa chỉ: Tiểu khu A1, thị trấn B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Vũ Thị M, sinh năm 1966. Địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Anh Lê Hiệp H, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
Ngƣời làm chứng:
- Anh Nguyễn Xuân N1, sinh năm 1980. Vắng mặt.
- Chị Lê Thị Thu N2, sinh năm 1983. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Đình N3, sinh năm 1964. Vắng mặt.
- Anh Võ Quốc N4, sinh năm 1987. Vắng mặt.
- Cháu Vũ Ngọc Minh N5, sinh ngày 09/8/2018. Vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật của cháu Vũ Ngọc Minh N5: Chị Lương Thị Hồng N, sinh năm 1986. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 31/01/2025, T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Dream, màu sơn xanh, biển kiểm soát: 26AA - 182.02 đến nhà Lương Thị Hồng N, sinh năm 1986, trú tại tiểu khu A1, thị trấn B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La (là vợ cũ của T) để thăm gặp con gái là Vũ Ngọc Minh N5 (sinh năm 2018) hiện đang sống cùng N. Khi đến nhà N, T gọi cửa nhiều lần nhưng thấy T có biểu hiện say rượu, không tỉnh táo nên N không ra mở cổng khiến T bức xúc nói to tiếng. Sau đó có Lê Hiệp H, sinh năm 1983, trú tại tiểu khu A, thị trấn B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La là đồng nghiệp cùng làm tại Điện lực khu vực Mai Sơn – Yên Châu với N mặc quần áo và đội mũ bảo hộ của điện lực đến để đưa số liệu cho N nhập phần mềm. Thấy H đến, T bảo H gọi N xem thế nào, T gọi mãi không được, H chưa trả lời thì T đã lao vào đấm H nhưng H tránh được và xô đẩy vào cổng nhà N. T giật chiếc mũ bảo hộ bằng nhựa màu vàng H đang đội trên đầu khiến chiếc mũ bị rơi xuống đất. T tiếp tục dùng tay phải đấm 2-3 phát vào phần đầu, cổ của H nhưng không trúng. T nhặt chiếc mũ bảo hộ nhằm vào H để đập nhưng H đều tránh được. Sau đó, H bỏ chạy sang nhà hàng xóm của N. T tiếp tục cầm mũ bảo hộ của H ném vào cổng, dùng tay xô đẩy cánh cổng với mục đích yêu cầu N ra mở cổng. Khoảng 2-3 phút sau, N và N5 ra mở cổng, N nói “Đừng đập cửa nữa” rồi N lấy chìa khóa mở cổng cho T. Khi cổng vừa mở, T bước vào quát N “Sao, mày làm sao?”, N không trả lời mà nói với N5 “Đi với bố đi”. T đẩy N5 ra phía sau và quát N “Nó là con tao, ý mày làm sao” đồng thời dùng tay phải giơ lên tát N 01 nhát từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trúng vào phần đầu và cổ bên trái của N khiến cho N bị mất thăng bằng ngã vào bờ tường. T tiếp tục dùng hai tay tát liên tiếp 03 nhát vào phần mặt, đầu của N, N ngồi thụp xuống cạnh bờ tường hai tay ôm đầu. T tiếp tục dùng 02 tay túm tóc N lôi kéo và đẩy N ngã ngửa ra phía cổng, đồng thời dùng chân phải đạp 03 nhát vào vùng đầu, mặt của N. Lúc này có Võ Quốc N4, Lê Thị Thu N2 là hàng xóm của N chạy vào can, giữ không cho T đánh N nữa. T không dừng lại mà vẫn hung hăng, xô đẩy, thách thức N4, N2 và tiếp tục dùng chân phải đá 01 phát trúng vào vùng miệng của N khiến 01 chiếc răng cửa bên trên của N bị gãy. T tiếp tục dùng hai tay túm tóc N đánh tiếp thì Nguyễn Xuân N1, Nguyễn Đình N3 (hàng xóm của N) đến can ngăn. Khi mọi người đến can ngăn thì T dừng lại, không đánh N nữa. Sau đó, N được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện Mai Sơn để điều trị. Còn T ở lại nhà N, bực tức về việc N lắp hệ thống Camera quan sát, biết T đến nhưng không ra mở cổng nên T nảy sinh ý định đập phá hệ thống Camera của N. T nhặt chiếc mũ bảo hộ màu vàng của H bị rơi ở trước cổng nhà N nhằm vào chiếc Camera ở trước hiên nhà để ném nhưng không trúng. T leo lên dẫm chân lên chiếc tủ giày bằng gỗ ép cạnh đó để ném khiến tủ giày bị sập, cánh tủ bị bung bật ra ngoài. T tiếp tục đứng ở sân nhằm vào chiếc Camera ở hiên nhà N ném khoảng 05 lần cho đến khi trúng vào Camera rơi lơ lửng thì mới dừng lại. Sau đó, T đi vào phòng khách nhà N tiếp tục dùng chiếc mũ bảo hộ ném 03 phát trúng vào chiếc Camera lắp ở vị trí góc tường bên trên (bên phải hướng từ trong ra ngoài) làm chiếc Camera bị xô lệch, rơi khỏi vị trí ban đầu thì dừng lại. T đi vào phòng ngủ của N, dùng chiếc mũ bảo hộ ném khoảng 03 phát trúng vào chiếc Camera lắp đặt tại góc trường, cạnh cửa ra vào phòng ngủ làm chiếc Camera bị xô lệch, rơi khỏi vị trí ban đầu. Sau đó, T quay lại vị trí dựng xe mô tô tại cổng nhà N ngồi thì Công an thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn đến yêu cầu T đến trụ sở để làm rõ sự việc.
Vật chứng thu giữ
- 01 chiếc răng phát hiện, thu giữ tại hiện trường ngày 31/01/2025.
- 01 chiếc mũ nhựa màu vàng, loại mũ bảo hộ lao động, có dây quai phía trong mũ bị gãy, gắn chốt bằng nhựa, đã qua sử dụng; có dấu vết nứt, vỡ mới.
- 01 chiếc Camera màu trắng, nhãn hiệu Dahua, kích thước 18cm x 23cm, bị bung bật khỏi đế Camera gắn cố định vào tường, toàn bộ mặt ống kính phía trước mắt Camera có đường kính 3,6cm bị vỡ và nứt.
- 01 chiếc Camera màu trắng, nhãn hiệu Dahua, kích thước 18cm x 23cm, Camera được gắn với tường bằng 04 ốc vít kim loại, trong đó 03 ốc vít bị bung bật khỏi vị trí ban đầu khiến Camera bị rời khỏi vị trí ban đầu.
- 01 chiếc Camera màu trắng, nhãn hiệu Dahua, kích thước 18cm x 23cm, Camera bị bung bật khỏi đế Camera gắn cố định vào tường.
- 01 chiếc đầu thu hiệu DH-XVR1B04-I-VN, có kích thước 18cm x 18cm x 5cm, màu đen, đặt tại vị trí kệ ti vi trong phòng khách, còn nguyên vẹn.
- 01 chiếc tủ để giày bằng gỗ ép màu nâu - trắng, kích thước 0,3m x 0,58m, cao 0,78m, có 04 ngăn để giày dép đã qua sử dụng. Hai cánh cửa tủ, ngăn tủ trên cùng, ngăn tủ số 1, ngăn tủ số 3, 4 và một phần mặt gỗ phía sau của tủ bị bung bật, gẫy rời khỏi vị ví ban đầu.
- 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Dream, màu sơn xanh, biển kiểm soát 26AA - 182.02 và 01 chiếc mũ bảo hiểm loại nữa đầu, hiệu GO LEAN màu đen, kèm 01 chìa khóa điện cho Vũ Thế T tự giác giao nộp.
Ngày 31/01/2025, tại Bệnh viện đa khoa huyện Mai Sơn, Công an thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn đã tiến hành ghi nhận dấu vết thương tích trên cơ thể Lương Thị Hồng N, kết quả:
- Tại vị trí mặt trong môi trên có nhiều vết thương xây sát, nham nhở, rỉ máu, gãy răng 2.1, lung lay răng 1.1 và 1.2.
- Vùng ngực, mạn sườn trái không sưng nề, hơi bầm tím, ấn đau tức, không có điểm đau chói.
- X- quang ngực không phát hiện hình ảnh gãy xương x- quang mạc, không phát hiện gãy xương hàm mặt.
Ngày 31/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể của Vũ Thế T, kết quả:
Tại vị trí phía trong mắt cá chân phải có 01 vết xay xước da chảy máu kích thước 0,5cm x 1,3cm (vết xay xước da tại vị trí mắt cá chân phải là do T dùng chân đá gây thương tích cho Lương Thị Hồng N).
Ngày 02/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 72/QĐ-CQCSĐT, trưng cầu T tâm pháp y tỉnh Sơn La giám định tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe do thương tích gây ra và cơ chế hình thành thương tích đối với Lương Thị Hồng N.
Tại kết luận giám định số 43/KLTTCT-TTPY ngày 05 tháng 02 năm 2025 của T tâm pháp y, Sở y tế kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây ra đối với Lương Thị Hồng N:
“1. Các kết quả chính:
- Vết thương phần mềm mi trên mắt phải (xếp: 03%);
- Mất răng R2.1 (xếp: 02%).
- Vết thương bầm tím môi trên, sườn trái, cẳng chân trái, không có cơ sở đánh giá tỷ lệ phần trăm thương tích.
2. Kết luận: - Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lương Thị Hồng N tại thời điểm giám định là: 05% (Năm phần trăm) áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích.
+ Vết thương phần mềm mi trên mắt phải là do tác động của vật cứng có cạnh gây nên.
+ Chấn thương bầm tím môi trên, gãy răng R2.1, lung lay răng R1.1, R1.2, bầm tím vùng sườn trái, cẳng chân trái là do tác động của vật tày cứng gây nên.”
Ngày 25/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn ban hành Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 99/QĐ-CQCSĐT, trưng cầu T tâm pháp y tỉnh Sơn La giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây ra và cơ chế hình thành thương tích đối với Lương Thị Hồng N.
Tại kết luận giám định số 73/KLTTCT-TTPY ngày 27 tháng 02 năm 2025 của T tâm pháp y tỉnh Sơn La kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống đối với Lương Thị Hồng N, kết quả:
“1. Các kết quả chính:
+ Gẫy xương hàm trên, còn dụng cụ kết hợp xương (xếp: 08%)
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương của Lương Thị Hồng N tại thời điểm giám định là: 08% (tám phần trăm) áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích là do tác động của vật tày cứng gây lên./.”
Ngày 17/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn ban hành Công văn số 178/CV-VKS, đề nghị T tâm Pháp y - Giám định Y khoa, Sở Y tế tỉnh Sơn La, làm rõ một số nội dung:
“1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây ra đối với các vết thương vùng phần mềm mi mắt phải; mất răng R2.1 và gẫy xương hàm trên, còn dụng cụ kết hợp xương đối với Lương Thị Hồng N có tổng cộng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là bao nhiêu %?
2. Lý do khi giám định lần đầu theo Quyết định trưng cầu giám định số 72/QĐ-CQCSĐT ngày 02/02/2025 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Mai Sơn không phát hiện Lương Thị Hồng N bị gẫy xương hàm trên?
3. Đối với thương tích gẫy xương hàm trên của Lương Thị Hồng N có cùng với thời điểm với thương tích khác xảy ra vào ngày 31/01/2025 không?”
Ngày 21/4/2025, T tâm Pháp y - Giám định Y khoa, Sở Y tế tỉnh Sơn La có Công văn số 16/PYGĐYK trả lời:
“1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của hai bản kết luận: Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể lần đầu số 43/KLTTCT-TTPY ngày 05/02/2025 và Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể bổ sung số 73/KLTTCT-TTPY ngày 27/02/2025 có tỷ lệ tổn thương như sau:
- Vết thương phần mềm mi mắt phải, xếp: 03%.
- Mất răng R2.1, xếp: 02%.
- Gãy xương hàm trên, còn dụng cụ kết hợp xương, xếp: 08%.
Tổng tỷ lệ tổn thương là: 12.54% (làm tròn số là: 13%). Như vậy tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lương Thị Hồng N tại thời điểm giám định của hai bản kết luận, bản kết luận lần đầu và bản kết luận bổ sung là: 13% (Mười ba phần trăm).
2. Lý do khi giám định lần đầu theo Quyết định số 72/QĐ-CQCSĐT ngày 02/02/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn, không phát hiện bị gẫy xương hàm trên là do: Tại thời điểm giám định ngày 03/02/2025 tại T tâm Pháp y, T tâm có chỉ định cho Lương Thị Hồng N đi chụp cắt lớp vi tính sọ não, chụp Xquang hàm mặt, Xquang lồng ngực; kết quả đều không phát hiện tổn thương: Siêu âm lồng ngực, kết quả dụng dập, phù nề phần mềm thành ngực bên trái. Lý do chưa phát hiện được có thể do chất lượng của phim chụp Xquang thường hàm mặt, tư thể chụp, kỹ thuật chụp..., do đó không phát hiện được gãy, vỡ xương hàm trên.
3. Thương tích gẫy xương hàm trên có cùng với thời điểm với các thương tích khác ngày 31/01/2025 bởi vì: Thời điểm giám định ngày 03/02/2025 tại T tâm Pháp y là sau chấn thương ngày thứ 4, có các tổn thương trùng với điểm gãy xương hàm trên là sưng nề, bầm tím niêm mạc môi, cung răng hàm trên, gãy mất hoàn toàn răng 2.1, răng 1.1, 1.2 lung lay, quặp vào trong. Sau đó ngày 05/02/2025, Lương Thị Hồng N vào Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La khám, điều trị và được chẩn đoán: CTHM / Gãy Lefort I do bị đánh, được điều trị bằng: Phẫu thuật điều trị gẫy Lefort 1 bằng nẹp vít. Do vậy chấn thương gầy, vỡ xương hàm trên là phù hợp với thời điểm các thương tích xảy ra ngày 31/01/2025.”
Ngày 12/02/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn ban hành Quyết định T cầu Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Sơn La giám định đối với 03 đoạn video thu từ hệ thống Camera của gia đình chị Lương Thị Hồng N có ghi nhận nội dung, diễn biến sự việc.
Tại bản kết luận giám định số 354/KL- KTHS ngày 20/02/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Sơn La kết luận: “03 đoạn file video gửi giám định không bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung.”
Ngày 05/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 136/YCĐG yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Mai Sơn xác định giá trị thiệt hại đối với 03 chiếc Camera và 01 tủ gỗ ép đựng giày dép bị thiệt hại của Lương Thị Hồng N.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 129/KL-HĐ ngày 05/02/2025 của Hội đồng định, Ủy ban nhân dân huyện Mai Sơn, kết luận:
“ - 01 chiếc camera màu trắng, nhãn hiệu Dahua, kích thước 18cm x 23cm, Số S/N: 9E00276PAG2CE1E trị giá 1.283.000 VNĐ.
- Sửa chữa, thay linh kiệm 01 chiếc camera màu trắng, nhãn hiệu Dahua, kích thước 18cm x 23cm, Số S/N: 9E00276PAG37012 trị giá 133.000 VNĐ.
- Sửa chữa, thay linh kiện 01 chiếc camera màu trắng, nhãn hiệu Dahua, kích thước 18cm x 23cm, Số S/N: 9E00276PAG299BF trị giá 220.000 VNĐ.
- Sửa chữa, gia cố và công lắp đặt 01 chiếc tủ để giày bằng gỗ ép màu nâu
- trắng, kích thước 0,3m x 0,58m, cao 0,78m, có 04 ngăn trị giá 460.000 VNĐ.
Tổng giá trị tại thời điểm định giá tháng 01/2025 là 2.096.000 VNĐ”
Tại bản cáo trạng số 45/CT-VKSMS ngày 23/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Vũ Thế T về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 và tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Vũ Thế T phạm tội Cố ý gây thương tích và Cố ý làm hư hỏng tài sản.
- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm e, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Vũ Thế T 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Vũ Thế T 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Căn cứ khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Bị cáo T phải chấp hành hình phạt tổng hợp cho hai tội Cố ý gây thương tích và cố ý làm hư hỏng tài sản từ 04 năm đến 05 năm tù. Tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 09/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La là 02 (hai) tháng 25 (hai mươi lăm) ngày tù.
Về vật chứng: Đề nghị Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc răng của chị Lương Thị Hồng N, 01 chiếc mũ nhựa màu vàng, đã qua sử dụng.
Trả cho chị Lương Thị Hồng N: 03 chiếc camera, 01 đầu thu, 01 tủ để giày bằng gỗ ép màu nâu.
Trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Vũ Thị M: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 26AA-182.02.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị căn cứ Điều 584, 585, 586, 589, 590 Bộ luật Dân sự: Chấp nhận yêu cầu của bị hại, buộc bị cáo Vũ Thế T phải bồi thường cho bị hại Lương Thị Hồng N tổng số tiền là 93.200.000 đồng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo Vũ Thế T tự bào chữa: Bị cáo nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, nhất trí với yêu cầu bồi thường của bị hại. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án – bà Vũ Thị M trình bày ý kiến: Nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại tài sản cho bà quản lý và sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng: Bị hại Lương Thị Hồng N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Hiệp H và những người làm chứng đều đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt (bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt). Bị cáo, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng. Hội đồng xét xử xét thấy chị N, anh H và những người làm chứng đều đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về tình tiết định tội:
Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vũ Thế T khai nhận: Ngày 31/01/2025, khi Vũ Thế T đến nhà Lương Thị Hồng N để thăm con gái là Vũ Ngọc Minh N5, do T gọi lâu mà N không ra mở cửa nên sau đó T đã có hành vi dùng tay, chân đánh N vào vùng đầu, mặt gây thương tích là 13%. Ngoài ra, T còn dùng mũ bảo hộ lao động của anh Lê Hiệp H để ném làm hư hỏng 03 chiếc camera và dùng chân dẫm, đạp làm hư hỏng 01 tủ đựng giày dép bằng gỗ ép của chị N gây thiệt hại 2.096.000VNĐ.
Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường lập hồi 17 giờ 00 phút ngày 31/01/2025 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn; kết luận giám định thương tích đối với chị Lương Thị Hồng N, kết luận định giá tài sản bị thiệt hại; phù hợp với lời khai của bị hại Lương Thị Hồng N, lời khai của những người làm chứng trong giai đoạn điều tra và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra tại phiên tòa không có gì mâu thuẫn. Vì vậy, đã có đủ căn cứ để xác định bị cáo Vũ Thế T phạm vào tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 và tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại Điều 134 và Điều 178 Bộ luật Hình sự quy định:
“Điều 134: Tội cố ý gây thương tích
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30 % hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
i) Có tính chất côn đồ;
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
...
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
....
Điều 178: Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...”.
Xét tính chất vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, bị cáo nhận thức rõ được việc gây thương tích cho người khác và làm hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì nguyên cớ nhỏ nhặt là sự tức giận của cá nhân mà bị cáo đã cố tình xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe thể chất và tinh thần cũng như tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo cũng đã gây bức xúc trong xã hội, dẫn tới ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
Bị cáo đang phải chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của một bản án khác mà vẫn cố tình phạm 02 tội cùng lúc, trong đó có 01 tội cùng loại. Vì vậy, cần có mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo đang phải chấp hành hình phạt 24 tháng cải tạo không giam giữ của Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 09/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự mà cố tình phạm tội mới nên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm đối với cả hai tội. Ngoài ra, đối với hành vi gây thương tích cho bị hại N, mặc dù bị cáo đã được hàng xóm của chị N là anh Võ Quốc N4 và chị Lê Thị Thu N2 can ngăn và bị cáo có thể dừng lại khi đó nhưng bị cáo vẫn cố ý tiếp tục dùng tay, chân gây thương tích cho chị N nên bị cáo phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự là cố ý phạm tội tới cùng. Đây là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm e, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc áp dụng phù hợp đối với từng hành vi của bị cáo.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vũ Thế T đã khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm nên cần xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.
Về tổng hợp hình phạt:
Tại bản án số 108/2024/HS-ST ngày 09/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đã xét xử đối với bị cáo Vũ Thế T về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thế T 24 tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được khấu trừ thời hạn tạm giam (từ ngày 24/4/2024 đến ngày 09/8/2024 là 108 ngày x 3 = 324 ngày cải tạo không giam giữ tức 10 tháng 24 ngày); Bị cáo còn phải chấp hành tiếp 13 tháng 06 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Căn cứ quyết định phân công cán bộ quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự tại cộng đồng của công an thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La thì bị cáo Vũ Thế T chấp hành hình phạt 13 tháng 06 ngày cải tạo không giam giữ bắt đầu từ ngày 10/9/2024. Tính đến ngày 31/01/2025 thì bị cáo đã chấp hành được 04 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ, phần hình phạt chưa chấp hành là 08 tháng 15 ngày cải tạo không giam giữ. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự thì cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù, như vậy 08 tháng 15 ngày cải tạo không giam giữ = 02 tháng 25 ngày tù.
Căn cứ khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ quyết định hình phạt đối với từng tội danh trong vụ án này và tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo T không có công việc ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra bị hại Lương Thị Hồng N yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng số tiền 93.200.000 đồng, bao gồm: tiền viện phí, thuốc điều trị, taxi đi lại, thăm khám, điều trị tại bệnh viên là 28.700.000 đồng, tiền lắp và sửa camera là 3.500.000 đồng, tiền mua tù giày mới là 1.000.000 đồng, tiền dự tính về Hà nội làm răng là 40.000.000 đồng, tiền bồi thường sức khỏe, tinh thần và tiền mất thu nhập trong thời gian điều trị là 20.000.000 đồng. Bị cáo T chưa bồi thường được phần nào cho bị hại.
Đối với yêu cầu bồi thường dân sự của bị hại Lương Thị Hồng N tại phiên tòa bị cáo T nhất trí với mức đề nghị của bị hại, không có ý kiến tranh luận.
Hội đồng xét xử xét thấy căn cứ theo quy định tại Điều 589, 590 Bộ luật Dân sự thì bị cáo phải bồi thường cho người bị thiệt hại, ngoài chi phí điều trị và các chi phí hợp lý khác thì mức bồi thường tổn thất về tinh thần có thể do các bên tự thỏa thuận, nếu không tự thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức mương cơ sở do Nhà nước quy định. Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 73/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ thì từ ngày 01/7/2024 mức lương cơ sở là 2.340.000VNĐ/tháng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu bồi thường về chi phí điều trị, các chi phí phát sinh khác và bồi thường về tinh thần, sức khỏe bị xâm phạm, tiền mất thu nhập trong thời gian chữa trị thương tích của bị hại với số tiền 93.200.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật, bị cáo không có ý kiến tranh luận nên cần chấp nhận.
Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc răng của chị Lương Thị Hồng N, 01 chiếc mũ nhựa màu vàng, đã qua sử dụng: Xét thấy là những vật không còn giá trị sử dụng, anh H và chị N không có yêu cầu nhận lại nên cần căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để tịch thu tiêu hủy.
Đối với 03 chiếc camera, 01 đầu thu, 01 tủ để giày bằng gỗ ép màu nâu: Xét thấy là tài sản hợp pháp của chị Lương Thị Hồng N nên cần căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự để trả lại cho chị N.
Đối với 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 26AA-182.02: Xét thấy là tài sản hợp pháp của bà Vũ Thị M, bà M không biết việc bị cáo T sử dụng chiếc xe trên để đi đến nhà chị N và có hành vi vi phạm pháp luật nên cần căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự để trả lại cho bà M quản lý và sử dụng.
Về vấn đề khác:
Đối với hành vi đánh Lê Hiệp H của Vũ Thế T. Quá trình điều tra xác định nguyên nhân T đánh H là do T nghĩ Hòa được N gọi đến để can thiệp, ngăn cản việc T gặp con gái nên T đã có hành vi dùng tay đấm 2-3 phát vào vùng đầu, vai của H nhưng không trúng, không gây thương tích gì. H không yêu cầu bồi thường và không yêu cầu xử lý đối với hành vi của T. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La không đặt vấn đề xử lý đối với Vũ Thế T.
Đối với chiếc mũ bảo hộ màu vàng của Lê Hiệp H, Vũ Thế T sử dụng để đập vào cửa cổng nhà N và dùng để ném 03 chiếc Camera, mũ đã bị vỡ, nứt, gãy quai. Quá trình điều tra, xác định chiếc mũ trên là của H được cơ quan cấp phát để quản lý, sử dụng bảo hộ lao động. H không yêu cầu Vũ Thế T phải bồi thường.
Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Vũ Thế T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định là 4.660.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm e, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Vũ Thế T phạm tội Cố ý gây thương tích. Xử phạt bị cáo Vũ Thế T 03 (ba) năm tù.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Vũ Thế T phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Xử phạt bị cáo Vũ Thế T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Căn cứ khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Bị cáo T phải chấp hành hình phạt tổng hợp cho hai tội Cố ý gây thương tích và cố ý làm hư hỏng tài sản là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
Tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 09/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La là 02 (hai) tháng 25 (hai mươi lăm) ngày tù, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là: 04 (bốn) năm 08 (tám) tháng 25 (hai mươi lăm) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc răng của chị Lương Thị Hồng N, 01 chiếc mũ nhựa màu vàng, đã qua sử dụng.
Trả cho chị Lương Thị Hồng N: 03 chiếc camera, 01 đầu thu, 01 tủ để giày bằng gỗ ép màu nâu.
Trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Vũ Thị M: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 26AA-182.02.
(Chi tiết vật chứng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/5/2025 giữa Công an tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Sơn).
3. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 584, 585, 586, 589, 590 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Vũ Thế T phải bồi thường cho bị hại Lương Thị Hồng N tiền chữa trị, thăm khám thương tích; tiền xe đi lại, ăn uống trong thời gian chữa trị, tiền giá trị tài sản bị thiêt hại và tiền bồi thường về tổn thất tinh thần, sức khỏe với tổng số tiền là 93.200.000VNĐ (chín mươi ba triệu hai trăm nghìn đồng).
4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Vũ Thế T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ (hai trăm nghìn đồng), tiền án phí dân sự sơ thẩm là 4.660.000VNĐ (bốn triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng).
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/5/2025); bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - Viện KSND tỉnh Sơn La; - Viện KSND huyện Mai Sơn; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Sơn La; - Chi cục THADS huyện Mai Sơn; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QLNVLQ; - Lưu: Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Phƣơng Thúy |