- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Đ + Phạm Thị C - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2024/HSST Ngày: 16/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông
ng Ti n Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông
ng Văn Duôi.
Ông Hà Ngọc Ph ơng.
- Thư ký phiên toà: Ông ê Văn Ti n Dũng - Th ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn a
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu tham gia phiên toà: Ông Hoàng Minh Quốc - Kiểm sát viên
Ngày 16/4/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuận Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 19/3/2024 theo Quy t định đ a vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 03/4/2024 đối với các bị cáo:
1. Trần Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1959 tại xã Q, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình; Nơi c tr : Xóm 4, xã Q, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình; Nơi tạm tr : Bản P, xã C, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn a; Nghề nghiệp: ao động tự do; Trình độ học vấn: 8/10; Dân tộc: Kinh; Giới t nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn V (đã ch t) và bà: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1937; Bị cáo có vợ: Phạm Thị C, sinh năm: 1963 và 04 con lớn nhất 38 tuổi nhỏ nhất 27 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi c tr , có mặt
2. Phạm Thị C; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1963 tại xã A, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình; Nơi c tr : Xóm 4, xã Q, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình; Nơi tạm tr : Bản P, xã C, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn a; Nghề nghiệp: ao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới t nh: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn P (đã ch t) và bà: Phạm Thị N (đã ch t); Bị cáo có chồng: Trần Văn Đ, sinh năm: 1959 và 04 con lớn nhất 38 tuổi nhỏ nhất 27 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi c tr , có mặt
*Bị hại: Chị Lộc Thị H; Sinh năm: 1991; Nơi c tr : Bản P, xã C, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn a, có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Vào ngày 28/12/2012 anh Trần Văn Đlà con trai của Trần Văn Đ và Phạm Thị C k t hôn với chị ộc Thị H Đ n năm 2016 anh Trần Văn Đ và chị ộc Thị H chuyển hộ khẩu đ n sinh sống tại bản P, xã C, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La buôn bán mở cửa hàng sửa chữa xe máy Đ n tháng 3 năm 2023 anh Trần Văn Đch t do tai nạn giao thông Đ n tháng 5 năm 2023 chị ộc Thị H sinh con thì Trần Văn Đ và Phạm Thị C chuyển lên sinh sống đăng ký tạm tr ở cùng nhà với chị ộc Thị H tại bản P, xã C, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn a Quá trình sống chung nhà với nhau thì giữa Trần Văn Đ, Phạm Thị C xảy ra mâu thuẫn và tranh chấp tài sản thừa k là mảnh đất tại ngôi nhà đang ở với chị ộc Thị H. Đ n tháng 9 năm 2023,Trần Văn Đ, Phạm Thị C tự ý làm một vách ngăn ở giữa nhà sinh hoạt một bên và để chị ộc Thị H sinh hoạt một bên Khoảng 09 gi ngày 16/9/2023, Phạm Thị C dọn dẹp, quét lá cây ph a sau nhà thì bị chị ộc Thị H đóng cửa sau không cho vào nhà mặc cho Phạm Thị C kêu la, đập cửa Một lúc sau, bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1957, tr tại: bản T, xã C, huyện Thuận Châu là ng i gi p việc nhà và trông con cho chị ộc Thị H ra mở cửa sau cho Phạm Thị C vào nhà thì giữa Phạm Thị C với chị ộc Thị H xảy ra cãi vã, to ti ng với nhau Cùng l c đó Trần Văn Đ và chị Trần Thị L, sinh năm: 1997, cùng tr tại: bản P, xã C, huyện Thuận Châu (L là con gái của Trần Văn Đ và Phạm Thị C) đang ở nhà chị L cách nhà chị H khoảng 30 mét nghe thấy ti ng cãi nhau của Phạm Thị C và chị H nên cùng nhau đ n xem Khi Trần Văn Đ và chị L đ n nhà chị H thì thấy Phạm Thị C và chị H đang cãi vã nhau nên chị L và chị H đã dùng điện thoại cá nhân quay video sự việc cãi nhau giữa Phạm Thị C và chị H c này, chị H gạt tay chị L đang cầm điện thoại làm điện thoại của chị L rơi xuống nền nhà làm chi c điện thoại của chị L bị xây x ớc nhẹ Thấy vậy Phạm Thị C giật lấy điện thoại của chị H là chi c điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh d ơng, dung l ợng 128 GB rồi chạy đi ra ngoài đ ng tỉnh lộ 108, mặt đ ng rải bê tông, chị H chạy theo ra ngoài đ ng và giằng co với Phạm Thị C để lấy lại điện thoại nh ng không lấy lại đ ợc Do bức xúc nên Phạm Thị C đã dùng tay đập, ném điện thoại của chị H một phát xuống nền đ ng Chị H nhặt điện thoại lên thì Phạm Thị C ti p tục giằng lấy điện thoại của chị H đập, ném xuống nền đ ng lần thứ hai Chị H ti p tục nhặt đ ợc điện thoại lên rồi đ a cho một ng i đàn ông đ n sửa xe máy tại nhà chị H (Mọi người đều không biết họ tên, địa chỉ của người đàn ông này) Thấy vậy, chị L đi đ n chỗ ng i đàn ông đang cầm chi c điện thoại của chị H, giật điện thoại rồi đ a cho Trần Văn Đ cầm Trần Văn Đ cầm lấy điện thoại của chị H do chị L đ a và thấy chị H giằng co, cãi nhau với Phạm Thị C nên bực tức đã đập, ném điện thoại của chị H một phát xuống nền đ ng Chị H nhặt điện thoại lên rồi đi vào trong nhà, do thấy điện thoại của mình bị h hỏng nặng nên chị H đ n Công an xã C, huyện Thuận Châu trình báo sự việc và yêu cầu điều tra làm rõ Đ n ngày 15/11/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu đã triệu tập Trần Văn Đ và Phạm Thị C đ n làm việc, tại Cơ quan điều tra Trần Văn Đ và Phạm Thị C đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, l i khai của Trần Văn Đ, Phạm Thị C phù hợp với l i khai của bị hại, ng i chứng ki n, ng i liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án
Quá trình điều tra đ n ngày 16/9/2023 Cơ quan điều tra đã ti n hành thu giữ các đồ vật tài sản sau: Một chi c điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh d ơng, dung l ợng 128 GB, màn hình và mặt l ng bị nứt vỡ thu giữ của chị ộc Thị H.
Ngày 23/11/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn a đã ra Quy t định tr ng cầu giám định số: 334/QĐ-ĐTTH gửi Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn a đề nghị giám định nội dung 01 video tr ch xuất từ camera giám sát của gia đình chị Trần Thị L ngày 16/9/2023 có bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung không?.
Tại Bản k t luận giám định số: 2571/K -KTHS ngày 30/11/2023 Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn a k t luận: Video gửi giám định không bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung Hoàn lại toàn bộ mẫu vật gửi giám định
Ngày 23/11/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn a đã ra Yêu cầu định giá tài sản số: 29/YC-ĐTTH đề nghị Hội đồng định giá tài sản huyện Thuận Châu định giá xác định giá trị của một chi c điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh d ơng, dung l ợng 128 GB và xác định giá trị của các bộ phận của điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh d ơng, dung l ợng 128 GB, màn hình và mặt l ng bị nứt vỡ h hỏng do Trần Văn Đ và Phạm Thị C cố ý làm h hỏng vào ngày 16/9/2023
Tại Bản k t luận định giá tài sản số: 50/KL-HĐĐG ngày 05/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Thuận Châu k t luận:
- Giá trị của Một chi c điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh d ơng, dung l ợng 128 GB có giá trị là: 14 000 000 đồng.
- Bộ phận h hỏng của điện thoại di động:
+ Thay th màn hình Iphone 12 Promax: 4 500 000 đồng
+ Thay th vỏ Iphone 12 Promax: 1 300 000 đồng
+ Sửa chữa Camera sau Iphone 12 Promax : 1 400 000 đồng
+ Sửa chữa bộ phận thu, phát sóng, Bluetooth,wifi Iphone 12 Promax: 1 400 000 đồng
Tổng cộng giá trị tài sản thiệt hại các bộ phận của chi c điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh d ơng, dung l ợng 128 GB bị h hỏng cần thay th , sữa chữa có giá trị là: 8 600 000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 27/CT-VKS-TC ngày 19/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đã truy tố Trần Văn Đ, Phạm Thị C về tội cố ý làm h hỏng tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Tại Cơ quan điều tra cũng nh tại phiên toà hôm nay các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đ ng nh nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C về tội cố ý làm h hỏng tài sản là đ ng ng i, đ ng tội
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày l i luận tội, sau khi phân t ch đánh giá t nh chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, vai trò đồng phạm cũng nh qua xem xét các tình ti t tăng nặng, tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố Trần Văn Đ, Phạm Thị C phạm tội: Cố ý làm h hỏng tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, điểm i, điểm s, điểm x khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 36 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 08 đ n 10 tháng cải tạo không giam giữ Th i hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Trần Văn Đ đ ợc t nh từ th i điểm Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình nhận đ ợc quy t định thi hành án
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Thị C từ 09 đ n 12 tháng cải tạo không giam giữ Th i hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Phạm Thị C đ ợc t nh từ th i điểm Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình nhận đ ợc quy t định thi hành án
Giao các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C cho BND xã Q, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong th i gian cải tạo không giam giữ Gia đình các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C có trách nhiệm phối hợp với BND xã Q, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục các bị cáo
Trong trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ một phần thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C đ ợc quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự và khoản 5 Điều 178 Bộ luật hình sự.
- Về bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự:: Ghi nhận việc các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C đã bồi th ng giá trị của các bộ phận của chi c điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh d ơng, dung l ợng 128 GB bị h hỏng cần thay th , sữa chữa có giá trị là: 8 600 000 đồng cho chị ộc Thị H và chị ộc Thị H không có yêu cầu bồi th ng gì khác. Các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C đã nộp số tiền 8 600 000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn a Chị ộc Thị H sẽ nhận số tiền này khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự tuyên: Trả lại cho chị ộc Thị H một chi c điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh d ơng, dung l ợng 128 GB, màn hình và mặt l ng bị nứt vỡ, điện thoại không khởi động đ ợc
- Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quy t số 326/2016/ BTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Th ng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm và án ph dân sự sơ thẩm cho các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C.
Ý ki n của các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C: Các bị cáo đều nhất tr với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát không có ý ki n tranh luận gì thêm i nói sau cùng các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét những tình ti t giảm nhẹ cho các bị cáo đ ợc h ởng hình phạt cải tạo không giam giữ để giáo dục cải tạo tại địa ph ơng, cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành ng i công dân tốt có ch cho gia đình và cộng đồng xã hội, xin miễn khấu trừ thu nhập, xin miễn hình phạt bổ sung, xin miễn án ph . Về bồi th ng dân sự cùng nhất tr bồi th ng cho chị ộc Thị H số tiền là 8 600 000 đồng và đã nộp số tiền này tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn a.
Ý ki n của chị ộc Thị H: Nhất tr với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát không có ý ki n tranh luận gì thêm Về hình phạt ch nh, hình phạt bổ sung, án ph chị không có yêu cầu đề nghị gì Về bồi th ng dân sự: Chị yêu cầu các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C bồi th ng giá trị của các bộ phận của chi c điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh d ơng, dung l ợng 128 GB bị h hỏng cần thay th , sữa chữa có giá trị là: 8 600 000 đồng, chị không nhận số tiền này từ các bị cáo, chị sẽ nhận số tiền này khi bản án có hiệu lực pháp luật và không có yêu cầu bồi th ng gì khác. Chi c điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh d ơng, dung l ợng 128 GB, màn hình và mặt l ng bị nứt vỡ hiện đang bị thu giữ chị yêu cầu đ ợc trả lại
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:
Về hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn a, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, thực hiện đ ng thủ tục tố tụng Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có ý ki n khi u nại về hành vi, quy t định của Cơ quan ti n hành tố tụng, ng i ti n hành tố tụng
Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C nhận thấy: Ngày 16/9/2023 tại bản P, xã C, huyện Thuận Châu do mâu thuẫn cá nhân nên Trần Văn Đ và Phạm Thị C đã có hành vi dùng tay cầm điện thoại của chị ộc Thị H đập, ném xuống mặt đ ng nhựa cụ thể: Phạm Thị C đập, ném 02 lần, Trần Văn Đ đập, ném 01 lần một chi c điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh d ơng, dung l ợng 128 GB có trị giá: 14.000.000 đồng gây h hỏng các bộ phận của chi c điện thoại di động của chị ộc Thị H có tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là: 8.600.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C đều thừa nhận cùng cố ý làm h hỏng các bộ phận của chi c điện thoại của chị ộc Thị H nh Bản k t luận định giá tài sản số 50/K -HĐĐG ngày 05/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Thuận Châu, các bị cáo cùng chịu trách nhiệm bồi th ng thiệt hại cho chị ộc Thị H do hành vi cố ý làm h hỏng tài sản.
Tại phiên tòa các bị cáo giữ nguyên l i khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, các bị cáo hoàn toàn nhất tr với hành vi phạm tội nh quy t định truy tố của Viện kiểm sát i khai của các bị cáo phù hợp với:
i khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với k t quả điều tra; Biên bản ti p nhận nguồn tin về tội phạm; Thông báo k t quả giải quy t nguồn tin tội phạm; Quy t định tr ng cầu giám định; K t luận giám định; Đơn đề nghị, biên bản ghi l i khai của chị ộc Thị H, của những ng i làm chứng về th i gian, địa điểm, hành vi phạm tội; Video tr ch xuất từ camera giám sát của gia đình chị Trần Thị L ngày 16/9/2023; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản mở niêm phong, kiểm tra đồ vật, tài liệu, khai thác dữ liệu điện tử và niêm phong lại; Yêu cầu định giá; K t luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở k t luận hành vi của các bị cáo đã gây thiệt hại về tài sản cho chị ộc Thị H nhằm mục đ ch cố ý làm h hỏng tài sản và hậu quả chị ộc Thị H bị thiệt hại tài sản với số tiền 8 600 000 đồng đã đủ y u tố cấu thành tội cố ý làm h hỏng tài sản theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự nên Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, quan điểm luận tội về tội danh cũng nh điều khoản áp dụng đối với các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C là phù hợp, có căn cứ đ ng ng i, đ ng tội, đ ng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc tr ng hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo nhận thức rõ hành vi làm h hỏng tài sản của ng i khác là vi phạm pháp luật, sẽ bị pháp luật nghiêm trị, song vì động cơ mâu thuẫn cá nhân các bị cáo đã cố ý trực ti p thực hiện tội phạm, thể hiện thái độ coi th ng pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù giá trị tài sản bị thiệt hại không lớn tuy nhiên đã xâm phạm trực ti p đ n quyền sở hữu tài sản của ng i khác đ ợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa ph ơng Xét tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra cần áp dụng mức hình phạt t ơng xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm giáo dục cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung trên cơ sở xem xét các tình ti t tăng nặng, tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, vai trò đồng phạm của các bị cáo
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều phạm tội lần đầu, thuộc tr ng hợp t nghiêm trọng là tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đã t ch cực bồi th ng, đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi th ng toàn bộ giá trị tài sản bị h hỏng do mình gây ra là tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự Bị cáo Trần Văn Đ có bố là liệt sỹ đã hy sinh trong cuộc kháng chi n chống Mỹ cứu n ớc là tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự Các bị cáo là gia đình có công với cách mạng, có bác ruột của bị cáo Trần Văn Đ là liệt sỹ đã hy sinh trong cuộc kháng chi n chống thực dân Pháp, có bà nội của bị cáo Trần Văn Đ đã có nhiều cống hi n, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đ ợc truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng Ngoài ra Hội đồng xét xử cũng xem xét điều kiện hoàn cảnh gia đình của các bị cáo hiện còn gặp nhiều khó khăn, tuổi đã cao, sức khỏe y u, th ng xuyên ốm đau bệnh tật, hạn ch khả năng lao động, không có công ăn việc làm thu nhập thấp, con trai đã bị ch t do tai nạn giao thông, là trụ cột gia đình hiện đang nuôi mẹ đẻ là vợ liệt sỹ, trình độ hiểu bi t pháp luật có phần hạn ch đây là những tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, không có tiền án, tiền sự, luôn chấp hành tốt ch nh sách pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân ở nơi c tr .
Về vị trí vai trò của đồng phạm: Các bị cáo phạm tội độc lập, không có sự tổ chức, phân công, không cùng thực hiện một tội phạm do đó không có vai trò đồng phạm
Các bị cáo đều có đơn xin đ ợc h ởng án phạt cải tạo không giam giữ có bảo lãnh của gia đình, có xác nhận của ch nh quyền địa ph ơng, l i đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát thấy rằng: Các bị cáo không có tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu thuộc tr ng hợp t nghiêm trọng, chấp hành tốt ch nh sách pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân ở nơi c tr ; đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đều t ch cực bồi th ng, đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi th ng toàn bộ giá trị tài sản bị h hỏng do mình gây ra, gia đình các bị cáo là gia đình có công với cách mạng bị cáo Trần Văn Đ có bố đẻ, có bác ruột là liệt sỹ, có bà nội đ ợc truy tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, các bị cáo hiện đang nuôi mẹ đẻ là vợ liệt sỹ Các bị cáo đều có 02 tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, đều có nơi c tr rõ ràng, ổn định để cơ quan có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Xét thấy không cần cách ly ra ngoài xã hội bởi các bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho các bị cáo h ởng án mức án cải tạo không giam giữ không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh h ởng xấu đ n an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cho các bị cáo cơ hội cải tạo ngoài cộng đồng cũng đảm bảo t nh răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm nói chung, đồng th i cũng thể hiện ch nh sách pháp luật nhân đạo, khoan hồng của Nhà n ớc, thể hiện đ ng lối xét xử nghiêm trị k t hợp giáo dục, cải tạo và các bị cáo phải chịu sự giám sát cơ quan Nhà n ớc, tổ chức xã hội và gia đình Các bị cáo đang tại ngoại th i hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đ ợc thực hiện theo quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự
Các bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi c tr theo Quy t định cấm đi khỏi nơi c tr của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, do các bị cáo đ ợc Tòa án tuyên hình phạt ch nh là cải tạo không giam giữ cho nên mọi biện pháp ngăn chặn đang áp dụng phải đ ợc hủy bỏ do vậy Hội đồng xét xử Hủy bỏ Quy t định cấm đi khỏi nơi c tr đối với các bị cáo đảm bảo đ ng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự
Đối với việc khấu trừ một phần thu nhập theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự và hình phạt bổ sung đ ợc quy định tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật hình sự, xét thấy: Các bị cáo là vợ chồng điều kiện hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn, tuổi đã cao, sức khỏe y u, th ng xuyên ốm đau bệnh tật, hạn ch khả năng lao động, không có công ăn việc làm thu nhập thấp, là trụ cột gia đình hiện đang nuôi mẹ là vợ liệt sỹ, không có tài sản, không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử miễn khấu trừ một phần thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
Đối với hành vi của chị ộc Thị H dùng tay để gạt tay chị L đang cầm điện thoại làm điện thoại của chị L rơi xuống nền nhà Quá trình điều tra xác định đ ợc điện thoại của chị L chỉ bị xây x ớc nhẹ, không bị h hỏng và chị L không yêu cầu đề nghị gì nên việc Cơ quan điều tra không đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chị ộc Thị H về tội Cố ý làm h hỏng tài sản, quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đ ng pháp luật
Đối với hành vi của chị Trần Thị L cầm điện thoại của chị ộc Thị H từ một ng i khách (Không xác định đựơc danh tính) đ n sửa xe máy rồi đ a cho Trần Văn Đ, sau đó Trần Văn Đ thực hiện hành vi Cố ý làm h hỏng chi c điện thoại của chị ộc Thị H Quá trình điều tra xác định đ ợc mục đ ch của chị L là để Trần Văn Đ cầm chứ không có mục đ ch nào khác, đồng th i chị Trần Thị L không đ ợc bàn bạc, thống nhất ý ch , không có hành vi x i giục Trần Văn Đ, Phạm Thị C về việc Cố ý làm h hỏng chi c điện thoại của chị ộc Thị H. Nên việc Cơ quan điều tra không đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chị Trần Thị L về tội Cố ý làm h hỏng tài sản, quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự với vai trò đồng phạm với Trần Văn Đ và Phạm Thị C là có căn cứ, đ ng pháp luật
Về bồi th ng dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị hại chị ộc Thị H không có yêu cầu buộc các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C phải bồi th ng giá trị của các bộ phận của chi c điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh d ơng, dung l ợng 128 GB bị h hỏng cần thay th , sữa chữa có giá trị là: 8 600 000 đồng Tại phiên tòa chị ộc Thị H có yêu cầu buộc các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C phải có trách nhiệm bồi th ng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của chị ộc Thị H về quyền sở hữu tài sản bị thiệt hại cần đ ợc pháp luật bảo vệ và sự thỏa thuận bồi th ng giữa các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C với chị ộc Thị H là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật Các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C đã bồi th ng đủ số tiền trên cho chị ộc Thị H tuy nhiên chị ộc Thị H không nhận số tiền này từ các bị cáo, chị sẽ nhận số tiền này khi bản án có hiệu lực pháp luật Các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C đã nộp số tiền 8 600 000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn a Nh vậy giữa bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C với bị hại chị ộc Thị H đã thỏa thuận bồi th ng toàn bộ thiệt hại và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm. Do vậy vấn đề bồi th ng dân sự không đặt ra cần chấp nhận căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự.
Về vật chứng: Đối với một chi c điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh d ơng, dung l ợng 128 GB, màn hình và mặt l ng bị nứt vỡ, điện thoại không khởi động đ ợc. Xét thấy đây là tài sản của chị ộc Thị H, chị H có yêu cầu đ ợc trả lại cần tuyên trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ, đ ng pháp luật căn cứ vào khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự
Về án ph : Các bị cáo là ng i cao tuổi, có thân nhân liệt sĩ đ ợc cơ quan Nhà n ớc có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sỹ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quy t số 326/2016/ BTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Th ng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm và án ph dân sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C phạm tội: Cố ý làm h hỏng tài sản.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, điểm i, điểm s, điểm x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 08 (Tám) tháng cải tạo không giam giữ Th i hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Trần Văn Đ đ ợc t nh từ th i điểm Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình nhận đ ợc quy t định thi hành án
Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Thị C 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ Th i hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Phạm Thị C đ ợc t nh từ th i điểm Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình nhận đ ợc quy t định thi hành án
Giao các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C cho BND xã Q, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong th i gian cải tạo không giam giữ Gia đình các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C có trách nhiệm phối hợp với BND xã Q, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục các bị cáo
Trong trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ một phần thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C đ ợc quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự và khoản 5 Điều 178 Bộ luật hình sự.
2. Về bồi thường dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự: Ghi nhận việc các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C đã bồi th ng giá trị của các bộ phận của chi c điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh d ơng, dung l ợng 128 GB bị h hỏng cần thay th , sữa chữa có giá trị là: 8 600 000 đồng (Tám triệu sáu trăm nghìn đồng) cho chị ộc Thị H và chị ộc Thị H không có yêu cầu bồi th ng gì khác Các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C đã nộp số tiền 8 600 000 đồng (Tám triệu sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu ký hiệu B TT/23, quyển số 017, số 0000843 ngày 16/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn a Chị ộc Thị H sẽ nhận số tiền này tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn a khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự tuyên: Trả lại cho chị ộc Thị H một chi c điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh d ơng, dung l ợng 128 GB, màn hình và mặt l ng bị nứt vỡ, điện thoại không khởi động đ ợc.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 22/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thuận Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Châu)
4. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quy t số 326/2016/ BTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Th ng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm và án ph dân sự sơ thẩm cho các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo Trần Văn Đ, Phạm Thị C, bị hại chị ộc Thị H đ ợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án /.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn a; - VKSND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn a (02 bản); - Sở T pháp tỉnh Ninh Bình; - Chi cục THADS huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn a; - Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn a; - Công an huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình; - UBND xã Q, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình; - Các bị cáo; - Bị hại; - u án văn; - u hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Ti n H i |