vanban.org

Bản án 87/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 29/11/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Hoàng T 09 (Chín) tháng tù. Hiện bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác (Bản án hình sự sơ thẩm số: 75/2024/HSST ngày 15/11/2024 của TAND TP. Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông). Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326 n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2024/HSST
Ngày 29/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Đình Thủy và bà Hoàng Thị Tám;

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Lâm Oanh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên toà: ông Đặng Văn Qúy – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2024/HSST, ngày 13 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Hoàng T, sinh ngày 29 tháng 01 năm 1996 tại Đắk Lắk; trú tại: Tổ C, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước; trình độ văn hóa: 8/12; nghề nghiệp: Làm nông; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Phạm Văn T1, sinh năm 1955 và bà Trần Thị Huỳnh N, sinh năm 1960; chung sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị T2; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2015 và con nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

Ngày 23/10/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự theo Bản án số 99/2020/HSST. Ngày 11/10/2021, chấp hành xong hình phạt tù, về sinh sống tại địa phương. (ngày 10/3/2021 bị cáo đã đóng 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm). Đã được xóa án tích theo quy định.

Ngày 02/7/2024 đến 04/7/2024, nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Ngày 06/7/2024 bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố G, tỉnh Đắk Nông tạm giữ hình sự. Ngày 12/7/2024, bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố G, tỉnh Đắk Nông khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam về tội trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự. Ngày 15 tháng 11 năm 2024 bị TAND TP. Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xử phạt với mức án là 01 (một) năm 09 (Chín) tháng tù theo bản án hình sự sơ thẩm số: 75/2024/HSST ngày 15/11/2024 của TAND TP. Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

Bị hại: Ông Nguyễn Văn N1; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Trần Thị Huỳnh N và chị Phan Thị Thúy H; địa chỉ: Tổ C, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước – vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 00, ngày 06/7/2024, Phạm Hoàng T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh trắng, biển kiểm soát 93F1- 592.63 (Thạch mượn của mẹ đẻ là bà Trần Thị Huỳnh N) đi từ thành phố G, tỉnh Đắk Nông đến khu vực xã T, huyện Đ tìm kiếm tài sản của người khác để trộm cắp mang đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Khi T đi đến nhà ông Nguyễn Văn N1 (sinh năm: 1972, trú tại thôn A, xã T, huyện Đ), T phát hiện bên trong sân nhà ông N1 có để nhiều chiếc xe mô tô. Lúc này, T sử dụng chiếc kìm đa năng nhãn hiệu „MEANFAST” tay cầm bọc nhựa đỏ đen dài 16cm dùng lực bẻ gãy chốt khoá cổng sắt nhà ông N1 rồi đi vào sân lấy 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu trắng xanh, biển kiểm soát 48B1 – 670.20 đang cắm chìa khoá trên xe và dắt chiếc xe mô tô này ra khỏi nhà ông N1 rồi cất giấu tại đống cây gỗ phía trước đối diện nhà ông N1. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 93F1 – 592.63 đi về nhà trọ tại tổ A, phường N, thành phố G tỉnh Đắk Nông và gọi điện nhờ em gái ruột là Phạm Thị Thúy H1 (sinh năm: 2001, tạm trú cùng dãy trọ Hạnh D với T tại tổ A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông) chở T xuống xã T để lấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 48B1 – 670.20 do T trộm cắp. (Khi đi T nói dối với H1 là xuống mượn xe của bạn để về sử dụng thì H1 tin tưởng và đồng ý). Khi T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 93F1 – 592.63 chở H1 đến cách vị trí cất giấu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 48B1 - 670.20 đã lấy trộm khoảng 30 mét thì bảo H1 điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát 93F1 – 592.63 về trước; còn Thạch tự đi vào nhà bạn rồi lấy xe về sau. Sau đó, T đến vị trí cất giấu lấy xe mô tô biển kiểm soát 48B1 - 670.20 điều khiển về cất ở phòng trọ của mình tại nhà trọ H2 ở tổ A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Đến sáng ngày 06/7/2024 khi T chưa kịp đi tiêu thụ tài sản thì đã bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố G kiểm tra, phát hiện và thu giữ các tang vật có liên quan. Quá trình làm việc với Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, Phạm Hoàng T đã thừa nhận toàn bộ hành vi lấy trộm xe mô tô biển kiểm soát 48B1 - 670.20 phù hợp với lời khai người bị hại và tài liệu chứng cứ thu thập được.

Tại biên bản và Bản kết luận định giá tài sản số: 35/KL-HĐĐGTS ngày 18/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: giá trị thành tiền còn lại của 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu trắng xanh, biển kiểm soát 48B1 – 670.20 đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 06/7/2024 là 9.500.000 đồng ( Chín triệu, năm trăm ngàn đồng).

* Về vật chứng của vụ án: Chấp nhận quyết định xử lý vật chứng số 951 ngày 10/9/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ trả lại xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu trắng xanh, biển kiểm soát 48B1 – 670.20 đã qua sử dụng cho ông Nguyễn Văn N1 là chủ sở hữu hợp pháp.

- Đối với 01 kìm đa năng nhãn hiệu „MEANFAST” tay cầm bọc nhựa đỏ đen dài 16 cm bị can T dùng làm công cụ phạm tội và xe mô tô biển kiểm soát 93F1 - 592.63 là phương tiện phạm tội đã được thu giữ và được xử lý theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 75/2024/HSST ngày 15/11/2024 của TAND TP. Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

* Về phần trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Nguyễn Văn N1 không yêu cầu bị can Phạm Hoàng Thạch bồi thường thiệt hại nên không xem xét.

Tại bản cáo trạng số 79/CT-VKS-ĐS ngày 12 tháng 11 năm 2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song truy tố bị cáo Phạm Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đăk Nông truy tố là đúng, không oan.

Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Khoảng 00 giờ 00‟ ngày 06/7/2024, lợi dụng sơ hở trong việc trông coi quản lý tài sản của gia đình ông Nguyễn Văn N1, tại thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Phạm Hoàng T đã chiếm đoạt của gia đình ông Nguyễn Văn N1 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu trắng xanh, biển kiểm soát 48B1 - 670.20 đã qua sử dụng, trị giá 9.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo Phạm Hoàng T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng T 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù. Hiện bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác;

Về vật chứng vụ án: Chấp nhận quyết định xử lý vật chứng số 951 ngày 10/9/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ trả lại xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu trắng xanh, biển kiểm soát 48B1 – 670.20 đã qua sử dụng cho ông Nguyễn Văn N1 là chủ sở hữu hợp pháp. Đối với 01 kìm đa năng nhãn hiệu „MEANFAST” tay cầm bọc nhựa đỏ đen dài 16 cm bị can T dùng làm công cụ phạm tội và xe mô tô biển kiểm soát 93F1 - 592.63 là phương tiện phạm tội đã được thu giữ và đã được xử lý theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 75/2024/HSST ngày 15/11/2024 của TAND TP. Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu nên không xem xét giải quyết;

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt;

Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: Do ham chơi, lười lao động nhưng lại muốn có tài sản để sử dụng vào mục đích cá nhân nên vào khoảng 00 giờ 00 phút, ngày 06/7/2024, Phạm Hoàng T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh trắng, biển kiểm soát 93F1- 592.63 (Thạch mượn của mẹ đẻ là bà Trần Thị Huỳnh N) đi từ thành phố G, tỉnh Đắk Nông đến khu vực xã T, huyện Đ tìm kiếm tài sản của người khác để trộm cắp mang đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đến nhà Nguyễn Văn N1 tại thôn A, xã T, huyện Đ bị cáo Phạm Hoàng T phát hiện thấy bên trong sân nhà anh N1 có nhiều xe máy không có người trông coi nên T đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu trắng xanh, biển kiểm soát 48B1 – 670.20 đang cắm chìa khoá trên xe và dắt chiếc xe mô tô này ra khỏi nhà ông N1 rồi cất giấu tại đống cây gỗ phía trước đối diện nhà ông N1. Sau đó, T điều khiển chiếc xe mô tô , biển kiểm soát 48B1 – 670.20 về phong trọ của T; đến sáng cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T kiểm tra, phát hiện và thu giữ cùng tang vật.

Tại biên bản và Bản kết luận định giá tài sản số: 35/KL-HĐĐGTS ngày 18/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: giá trị thành tiền còn lại của 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu trắng xanh, biển kiểm soát 48B1 – 670.20 đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 06/7/2024 là 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm ngàn đồng).

Hành vi của bị cáo Phạm Hoàng T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

2…

Xét hành vi của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, nhưng do lười lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài cá nhận một cách nhanh chóng nên T đã lén lút chiếm đoạt chiếu xe của anh N1, mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Ngoài ra, T đã từng bị xét xử về hành vi trộm cắp, đã chấp hành xong nhưng T lại không lấy đó làm bài học lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do vậy, HĐXX xét thấy để đảm bảo việc giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ý thức chấp hành nghiêm pháp luật cũng như răn đe phòng ngừa chung, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi mà bị cáo gây ra; cần cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội trong một khoản thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đây các là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 của Bộ luật Hình sự nên HĐXX sẽ xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS khi quyết định hình phạt đối với bị cáo;

Đối với hành vi của Phạm Thị Thúy H1 chở Phạm Hoàng T đến thôn A, xã T để lấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 48B1 - 670.20 trộm cắp. Quá trình điều tra xác định chị H1 không biết việc Phạm Hoàng T trộm cắp chiếc xe nói trên của ông Nguyễn Văn N1, do đó không xem xét xử lý. Đối với bà Trần Thj Huỳnh N2 cho bị cáo mượn chiếc xe mô tô 93F1 – 592.63 làm phương tiện đi lại, do không biết bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô nêu trên vào việc trộm cắp tài sản nên không xem xét xử lý.

Vật chứng của vụ án: Chấp nhận quyết định xử lý vật chứng số 951 ngày 10/9/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ trả lại xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu trắng xanh, biển kiểm soát 48B1 – 670.20 đã qua sử dụng cho ông Nguyễn Văn N1 là chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với 01 kìm đa năng nhãn hiệu „MEANFAST” tay cầm bọc nhựa đỏ đen dài 16 cm bị can T dùng làm công cụ phạm tội và xe mô tô biển kiểm soát 93F1 - 592.63 là phương tiện phạm tội đã được thu giữ đã được xử lý trong Bản án hình sự sơ thẩm số: 75/2024/HSST ngày 15/11/2024 của TAND TP. Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

Về trách nhiệm dân sự: người bị hại không yêu cầu nên không xem xét giải quyết,

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố Nhà Nước tại phiên tòa hôm nay đối với các bị cáo là có căn cứ và cần chấp nhận.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Phạm Hoàng T 09 (Chín) tháng tù. Hiện bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác (Bản án hình sự sơ thẩm số: 75/2024/HSST ngày 15/11/2024 của TAND TP. Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông).

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14. Buộc bị cáo Phạm Hoàng T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết tại chính quyền địa phương.

Cỡ chữ