- Tranh chấp gì? án hình sự — "HS BA87 Trương Hùng H và ĐP mua bán trái phép chất MT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trương Hùng H, Nguyễn Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2024/HS-ST Ngày 17-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Bùi Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Tiến Bộ.
ông Phan Mạnh Tưởng.
- Thư ký phiên tòa: bà Đinh Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Quang Hoà – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Trương Hùng H, sinh năm 2001 tại xã X, huyện M, thành phố H; nơi cư trú: Đội 9, thôn Nghĩa, xã X, huyện M, thành phố H; nghề ngH: lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn H1, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1979 (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị tạm giữ từ ngày 19/7/2024, chuyển tạm giam ngày 25/7/2024. Có mặt.
2. Nguyễn Văn T1, sinh năm 2000 tại xã X, huyện M, thành phố H; nơi cư trú: thôn Đoài, xã X, huyện M, thành phố H; nghề ngH: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1973 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị tạm giữ từ ngày 19/7/2024, chuyển tạm giam ngày 25/7/2024. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 01h00 phút ngày 19/7/2024, tại khu vực Cầu Gỗ, thuộc thôn 8, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Công an huyện Mỹ Đức kiểm tra bắt quả tang Trương Hùng H sinh năm 2001, trú tại thôn Nghĩa, xã Xuy Xá, huyện Mỹ Đức có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Thu giữ tại tay phải của H đang cầm 01 gói giấy bạc, bên trong có 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng và 02 gói giấy bạc chứa 30 viên nén màu hồng, H khai là ma tuý “đá” và ma tuý “ngựa” của H đang mang đi bán. Cơ quan công an tiến hành lập biên bản niêm phong tang vật và biên bản bắt người phạm tội quả tang, H khai nhận số ma tuý bị thu giữ do Nguyễn Văn T1 sinh năm 2000, trú tại thôn Đoài, xã Xuy Xá, huyện Mỹ Đức (đang cùng ở tại phòng thuê trọ thuộc thôn 8, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức) mua đưa cho H đi bán.
Cơ quan điều tra đã tiến hành bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn T1 và khám xét tại phòng thuê trọ của H, T1 phát hiện, lập biên bản thu giữ:
- 01 chiếc cân điện tử màu xám không rõ nhãn hiệu;
- 01 túi nilon màu xanh bên trong có 48 viên nén màu hồng và 01 viên nén màu xanh trên mặt bàn.
- 01 túi nilon màu xanh bên trong có 100 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh trên mặt bàn;
- 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng trên ghế sofa.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus, số IMEL: 359499087530573 bên trong có gắn sim.
Tiến hành khám xét nơi ở của Trương Hùng H tại thôn Nghĩa, xã Xuy Xá, huyện Mỹ Đức và nơi ở của Nguyễn Văn T1 tại thôn Đoài, xã Xuy Xá, huyện Mỹ Đức nhưng không phát hiện thu giữ gì.
Cùng ngày 19/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Mỹ Đức đã ra Quyết định trưng cầu số 979/QĐ-ĐCSKT-MT đến Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hà Nội giám định đối với vật chứng ma tuý thu giữ.
Tại Kết luận giám định số 5440/KL-KTHS ngày 28/7/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hà Nội, kết luận:
“* Niêm phong ký hiệu Mẫu số 01 gồm:
+ Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 1,352 gam.
+ 30 viên nén màu hồng bên trong hai gói giấy bạc là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 2,904 gam.
* Niêm phong ký hiệu Mẫu số 02 gồm:
+ 148 viên nén màu hồng đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 14,312 gam.
+ 03 viên nén màu xanh là loại ma túy Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,295 gam.
+ Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,699 gam.
* Niêm phong ký hiệu Mẫu số 03 gồm:
- 01 cân điện tử màu xám có dính ma túy loại Methamphetamine.”
Vật chứng hoàn lại sau giám định là 02 phong bì có chữ ký của giám định viên, cán bộ niêm phong và chữ ký của Nguyễn Văn T1, Trương Hùng H.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T1 và Trương Hùng H khai: Khoảng 21 giờ ngày 18/7/2024, khi Trương Hùng H cùng Nguyễn Văn T1 đang ở phòng thuê trọ thì 01 người đàn ông sử dụng tài khoản zalo “Thạch” gọi điện thoại cho H hỏi mua 30 viên ma túy “ngựa” và 01 túi ma túy “đá”. H đồng ý, thoả thuận giá là 6.000.000đ và hẹn người đó đến khu vực Cầu Gỗ thuộc thôn 8, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức để giao ma túy. Sau đó, H nói chuyện với T1 về việc có người hỏi mua số lượng ma túy như trên. T1 gọi điện thoại ứng dụng Messenger đến tài khoản “Đỗ Ngọc Minh” là bạn quen qua mạng xã hội để hỏi mua 180 viên ma túy hồng phiến (ma tuý “ngựa”), 01 hộp ma túy “đá” và 01 túi ma túy “ke” với số tiền 12.000.000 đồng, thỏa thuận giao ma tuý tại TDP Văn Giang, TT Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức. T1 điện thoại từ tài khoản zalo “Mập” của T1 gọi cho Nguyễn Thế Cương, sinh năm 1994, trú tại TDP Tế Tiêu, TT Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức (là lái xe taxi) điều khiển xe ô tô nhãn hiệu HuyndaiAccent, màu trắng BKS 30F-89394 đến chở T1. Trên đường đi, tài khoản “Đỗ Ngọc Minh” gửi ảnh qua điện thoại nơi để ma túy cho T1 là vị trí đầu ngõ 343, TDP Văn Giang, TT. Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức, T1 nhắn tin lại cho tài khoản “Đỗ Ngọc Minh” “cho em nợ tiền”. Khi đến nơi để ma tuý T1 lấy gói ma túy rồi đi về nơi thuê trọ đưa cho H 01 bọc giấy bạc bên trong có 02 túi nilon màu xanh chứa ma túy hồng phiến (ma tuý “ngựa”), 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng và 01 túi nhỏ nilon chứa tinh thể màu trắng là ma túy “đá” và ma túy “ke”. H tách lấy 30 viên ma túy “ngựa” ra chia gói vào 02 tờ giấy bạc và 01 túi nilon chứa ma túy “đá” gói vào 01 tờ giấy bạc để mang đi giao cho khách hẹn, số ma túy còn lại H để ở mặt bàn và mặt ghế trong phòng thuê trọ. Sau đó, H cầm ma túy ra khu vực hẹn, đang đợi giao cho khách thì bị lực lượng Công an huyện Mỹ Đức bắt lập biên bản phạm tội quả tang, biên bản thu giữ tang vật và đưa H về trụ sở để làm việc.
Cáo trạng số 86/CT-VKS-MĐ ngày 26/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố Trương Hùng H, Nguyễn Văn T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do từ đầu năm 2024, T1 và H là bạn bè chơi với nhau và rủ nhau cùng thuê phòng trọ để bán hàng online nhưng không bán được nên không có thu nhập, H đã chủ động rủ T1 đi mua ma túy về bán cho đối tượng nghiện để lấy tiền tiêu sài và được T1 đồng ý. Trước đây H đã từng sinh sống ở Hà Nội và có quen biết đối tượng tên Long (chỉ biết họ của Long và không rõ địa chỉ) là đối tượng sử dụng ma túy đã giới thiệu cho H người cần mua ma túy để sử dụng tên là Thạch (H chỉ biết tên Thạch và không rõ địa chỉ). Ngày 18/7/2024 Thạch gọi điện hỏi mua ma túy của H 30 viên nén màu Hồng (được gọi là ma túy ngựa) ” và 01 túi ma túy “đá” với giá 6.000.000 đồng nên H đồng ý và bảo T1 biết chỗ bán ma túy thì mua mang về để H bán cho Thạch. T1 nhất trí và gọi điện thoại ứng dụng Messenger đến tài khoản “Đỗ Ngọc Minh” là bạn quen qua mạng xã hội để hỏi mua 180 viên ma túy hồng phiến (ma tuý “ngựa”), 01 hộp ma túy “đá” và 01 túi ma túy “ke” với số tiền 12.000.000. T1 chủ động gọi xe tắc xi của anh Nguyễn Thế Cương chở T1 đi nhận ma túy. Sau khi nhận được ma túy thì T1 giao lại cho H, H đã thực hiện bán một phần ma túy cho Thạch như Cáo trạng đã truy tố và bị bắt giữ cùng tang vật.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Trương Hùng H, Nguyễn Văn T1 mỗi bị cáo từ 09-10 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 19/7/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do không có điều kiện thi hành án.
Đối với Nguyễn Thế Cương: Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập Nguyễn Thế Cương làm việc và tạm giữ: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent màu trắng, BKS 30S-89394. Qua điều tra xác định đăng ký xe mang tên Nguyễn Thế Cương, tra cứu xe không có trong cơ sở dữ liệu ô tô vật chứng. Nguyễn Thế Cương khai làm nghề lái xe taxi, được Nguyễn Văn T1 điện thoại thuê chở đi nhưng không nói lý do đi đâu, Cương không biết T1 giao dịch mua bán ma tuý, T1 khai phù hợp lời khai của Cương nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Nguyễn Thế Cương và trả xe ô tô cho Cương vào ngày 6/8/2024 là phù hợp.
Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 plus, số IMEL: 359499087530573 bên trong có gắn sim thu giữ của Trương Hoàng H, mở kiểm tra tài khoản zalo của điện thoại có lưu giữ dữ liệu giao dịch đến tài khoản “Thạch” là người hỏi mua ma tuý như H khai.
Đối với chiếc điện thoại Nguyễn Văn T1 sử dụng để giao dịch mua, bán ma tuý, T1 khai khi biết H bị công an bắt giữ, T1 đã ném điện thoại ra khu ruộng lúa gần phòng thuê trọ. Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản truy tìm nhưng không thu hồi lại được.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS, số Imel 359499087530573 bên trong có gắn sim số điện thoại
Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Các bị cáo Trương Hùng H, Nguyễn Văn T1 đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và nhất trí với nội dung, điều luật tội danh như cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo. Về hình phạt, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Đức và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người có liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại. Có đủ căn cứ xác định, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét tội danh: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trương Hùng H và Nguyễn Văn T1 đã thành khẩn khai nhận do là đối tượng có sử dụng ma tuý, không có nghề ngH ổn định, các bị cáo ham muốn kiếm lời từ ma tuý để có tiền sử dụng ma tuý, nên ngày 18/7/2024, Nguyễn Văn T1, Trương Hùng H có hành vi bàn bạc rủ nhau mua ma tuý gồm 180 viên (ma túy ngựa) là loại Methamphetamine có tổng khối lượng 18,863 gam và 01 túi nilon tinh thể ma túy loại Ketamine khối lượng 0,699 gam với số tiền là 12 triệu đồng để bán thu lợi. Ngày 19/7/2024, Trương Hùng H đang thực hiện bán một phần ma túy trên cho đối tượng Thạch tại khu vực Cầu Gỗ, thuộc thôn 8, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức đang chờ bán ma tuý Thạch thì bị phát hiện bắt quả tang. Đối chiếu với quy định của pháp luật: Tỷ lệ % chất ma tuý Methamphetamine/ tổng khối lượng tối thiểu quy định tại b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là: 13,683: 5 x 100% = 273,7%
Tỷ lệ % Ketamine/ tổng khối lượng tối thiểu quy định tại điểm n khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là: 0,699 : 20 x 100% = 3,5%.
Tổng tỷ lệ của hai chất ma tuý nói trên là: 273,7% + 3,5% = 277,2% (thuộc trường hợp trên 100%).
Đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo H, T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” với trong lượng ma túy các bị cáo tàng trữ nhằm mục đích để bán kiếm lời đã bị Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.
Xét tính chất của vụ án: Đây là vụ án có tính nguy hiểm cho xã hội bởi hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Tội phạm còn là nguyên nhân phát sinh thêm nhiều tệ nạn trong xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, kinh tế của bản thân và xã hội, còn có nguy cơ làm lây truyền nhiều loại bệnh và tội phạm khác, xâm phạm đến trật tự trị an, an ninh thôn xóm, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.
Xét vai trò và hành vi của các bị cáo: Bị cáo H là người rủ rê khởi xướng đối với T1 cùng thực hiện hành vi phạm tội nên giữ vai trò cao hơn bị cáo T1.
Xét hành vi của các bị cáo: Bản thân các bị cáo biết rất rõ ma tuý là chất gây nghiện ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, sức khoẻ, kinh tế, thậm chí ảnh hưởng đến cả sự duy trì phát triển lành mạnh nòi giống. Ma tuý bị Nhà nước nghiêm cấm lưu hành và sử dụng. Nhưng vì muốn thoả mãn cơn nghiện, các bị cáo bất chấp coi thường các tác hại của ma tuý ảnh hưởng đến sức khoẻ của bản thân, ảnh hưởng đến an ninh trật tự của xã hội và muốn tiếp tục có tiền sử dụng ma tuý, bị cáo đã không ngần ngại bán ma tuý cho người khác là thể hiện sự coi thường pháp luật.
Đánh giá tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cao cho xã hội, gây mất trật tự trị an, xã hội tại địa phương. Do đó, HĐXX nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bảo đảm tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung.
Xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tuy nhiên khi lên mức lượng hình cũng cần cân nhắc cho các bị cáo về tình tiết giảm nhẹ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu. Trước khi phạm tội đều có nhân thân tốt nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo là lao động tự do, nghề ngH, thu nhập không ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Cần xử lý vật chứng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là có căn cứ.
Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông có tài khoản zalo “Thạch” và người đàn ông tên “Long” là người giới thiệu cho H quen người có tài khoản zalo “Thạch”: Quá trình điều tra H khai không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này, nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xem xét các đối tượng đó trong vụ án này là có căn cứ chấp nhận.
Đối với người đàn ông có tài khoản zalo” Đỗ Ngọc Minh”, quá trình điều tra thì Nguyễn Văn T1 khai quen biết trên mạng xã hội, T1 không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ xác minh làm rõ.
Đối với địa điểm phòng ở mà Nguyễn Văn T1, Trương Hùng H thuê trọ, điều tra xác định chủ nhà là ông Phạm Đình Thuỷ (sinh năm 1954, trú tại: thôn 8, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức). Ông Thuỷ khai khoảng tháng 6/2023 gia đình ông xây và cho anh Trịnh Thế Huy (sinh năm 1983, trú tại: thôn 3, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức) thuê bán sim, thẻ điện thoại. Anh Huy khai dùng nơi thuê trọ của ông Thuỷ bán hàng, do chuyển thuê địa điểm khác nên đến tháng 2/2024 đã cho một thanh niên không rõ tên, địa chỉ thuê lại, thời hạn thoả thuận đến tháng 7/2024 đã lấy tổng số tiền thuê trả một lần 12.000.000đ và anh đã trả tiền thuê nhà cho ông Thuỷ. Ông Thuỷ, anh Huy không biết việc các bị can thuê phòng trọ để bán ma tuý, nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent màu trắng, BKS 30S-89394 thu giữ của anh Cương. Qua điều tra xác định đăng ký xe mang tên Nguyễn Thế Cương, tra cứu xe không có trong cơ sở dữ liệu ô tô vật chứng. Nguyễn Thế Cương khai làm nghề lái xe taxi, được Nguyễn Văn T1 điện thoại thuê chở đi nhưng không nói lý do đi đâu, Cương không biết T1 giao dịch mua bán ma tuý, T1 khai phù hợp lời khai của Cương nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Nguyễn Thế Cương và trả xe ô tô cho Cương vào ngày 6/8/2024 là phù hợp.
Đối với chiếc điện thoại Nguyễn Văn T1 sử dụng để giao dịch mua, bán ma tuý, T1 khai khi biết H bị công an bắt giữ, T1 đã ném điện thoại ra khu ruộng lúa gần phòng thuê trọ. Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản truy tìm nhưng không thu hồi lại được nên không xem xét.
Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Trương Hùng H, Nguyễn Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt:
+ Bị cáo Trương Hùng H 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ để tạm giam 19/7/2024.
+ Bị cáo Nguyễn Văn T1 08 năm 09 tháng tù (tám năm chín tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ để tạm giam 19/7/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì mẫu vật của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, có chữ ký của giám định viên, cán bộ niêm phong và chữ ký, họ tên Trương Hùng H, Nguyễn Văn T1.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS, số Imel 359499087530573 bên trong có gắn sim số điện thoại.
Vật chứng có đặc điểm và số lượng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/12/2024 giữa Công an huyện Mỹ Đức và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.
- Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP. Hà Nội;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND TP. Hà Nội;
- VKSND huyện Mỹ Đức;
- Cơ quan CSĐT Công an huyện Mỹ Đức;
- Cơ quan THAHS huyện Mỹ Đức;
- Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
- UBND xã Xuy Xá (thay TBKQ xét xử);
- Bị cáo;
Bùi Thị Hồng
- Lưu: HSVA, VT. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Hồng
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - VKSND TP. Hà Nội; - VKSND huyện Mỹ Đức; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Mỹ Đức; - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức; - UBND xã Hợp Tiến; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Đức H |