vanban.org

Bản án 87/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thanh Thúy V đối với bị đơn anh Võ Quang Hồng T về ly hôn, tranh chấp nuôi con.

Xử cho chị Ngô Thanh Thúy V ly hôn anh Võ Quang Hồng T. Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Minh K, sinh ngày 28/5/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Thanh Thúy V - Võ Quang Hồng T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thanh Thúy V đối với bị đơn anh Võ Quang Hồng T về ly hôn, tranh chấp nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 11-7-2024.
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Minh Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Thanh Nguyệt.

2. Ông Trương Công Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Lan Anh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 321/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 109/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thanh Thúy V, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Tổ I, khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Võ Quang Hồng T, sinh năm 1994.

Nơi đăng ký thường trú: 329/2B, N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: Tổ A, Khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(Chị V, anh T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện ngày 26/3/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Ngô Thanh Thúy V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Võ Quang Hồng T có tìm hiểu và đi đến hôn nhân năm 2017, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi và không cùng quan điểm sống, không còn tiếng nói chung trong gia đình dẫn đến thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, gia đình không hạnh phúc. Vợ chồng có bàn bạc giải quyết mâu thuẫn nhưng không được, kể từ ngày nộp đơn ly hôn cho đến nay anh T đã dọn ra ngoài sinh sống và ly thân cho đến nay. Nay Chị yêu cầu ly hôn anh T.

Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Minh K, sinh ngày 28/5/2019 hiện đang do chị nuôi dưỡng. Ly hôn, chị yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu K. Trước đây, chị yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng nhưng nay chị không yêu cầu mà để anh T tự nguyện cấp dưỡng theo khả năng. Hiện chị đang làm công nhân tại khu Công nghiệp L - huyện L thu nhập khoảng 8.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

2. Bị đơn anh Võ Quang Hồng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có ý kiến trình bày.

3. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong việc xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, tư cách tố tụng, thu thập chứng cứ và tiến hành tố tụng đúng quy định. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn được đảm bảo về quyền và lợi ích hợp pháp. Nguyên đơn thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định, bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định.

Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thanh Thúy V đối với bị đơn anh Võ Quang Hồng T, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị V đối với anh T; Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Minh K, sinh ngày 28/5/2019 hiện đang do chị V nuôi dưỡng. Xét con chung đang do chị V nuôi dưỡng, anh T không có ý kiến trình bày, không có yêu cầu nuôi con, đề nghị xử giao con chung cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng: Chị V không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét; Về án phí: Chị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn chị Ngô Thanh Thúy V khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Võ Quang Hồng T, yêu cầu giải quyết về người trực tiếp nuôi con, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nhưng trong quá trình giải quyết vụ án chị V không yêu cầu mà để anh T tự nguyện cấp dưỡng theo khả năng. Do đó, Tòa án thụ lý vụ án dân sự với quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Võ Quang Hồng T, sinh năm 1994, nơi đăng ký thường trú: 329/2B, N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, sinh sống tại địa chỉ: Tổ A, Khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Ngô Thanh Thúy V vắng mặt nhưng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; Bị đơn anh Võ Quang Hồng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị V, anh T.

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thanh Thúy V và anh Võ Quang Hồng T tự tìm hiểu và xây dựng gia đình với nhau năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận kết hôn số 261/2017, ngày 27/12/2017 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn chị V cho rằng trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, không cùng quan điểm sống, không còn tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, gia đình không hạnh phúc. Vợ chồng chị đã bàn bạc giải quyết mâu thuẫn nhưng không được, anh T đã dọn ra ngoài sinh sống và vợ chồng sống ly thân nên chị yêu cầu ly hôn anh T. Đối với bị đơn anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không cung cấp ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của chị V.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập chị V và anh T đến Tòa án để hòa giải cho anh chị đoàn tụ nhưng anh T không có mặt nên không tiến hành hòa giải được. Qua đó, cho thấy anh T đã bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân của hai vợ chồng và không mong muốn vợ chồng đoàn tụ.

Xét thấy, hôn nhân giữa chị V và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị V đối với anh T, xử cho chị V ly hôn anh T.

Về con chung: Chị V và anh T có 01 con chung tên Võ Minh K, sinh ngày 28/5/2019. Xét thấy, cháu K đang do chị V nuôi dưỡng. Đối với chị V có việc làm và thu nhập ổn định. Đối với anh T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để ghi nhận ý kiến về con chung nhưng anh T không có mặt, không cung cấp ý kiến cho thấy anh T không có trách nhiệm với con, không mong muốn nuôi dưỡng con chung. Do đó, để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con, cần xử giao cháu K cho chị V được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Chị V không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị V trình bày vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung. Tòa án đã triệu tập nhiều lần cho anh T đến Tòa án giải quyết nhưng anh T vắng mặt không có ý kiến trình bày, không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Về án phí: Chị Ngô Thanh Thúy V khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Võ Quang Hồng T nên chị V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thanh Thúy V đối với bị đơn anh Võ Quang Hồng T về ly hôn, tranh chấp nuôi con.

1. Xử cho chị Ngô Thanh Thúy V ly hôn anh Võ Quang Hồng T.

2. Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Minh K, sinh ngày 28/5/2019.

Xử giao cháu Võ Minh K, sinh ngày 28/5/2019 cho chị Ngô Thanh T1 Vi được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Không xem xét.

Sau khi ly hôn, chị V, anh T vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ, hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên, cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí: Chị Ngô Thanh Thúy V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0015598 ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (Chị V đã nộp đủ).

5. Về quyền kháng cáo: Chị Ngô Thanh Thúy V, anh Võ Quang Hồng T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ