vanban.org

Bản án 87/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Thu H đối với ông Nguyễn Đức S về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Đức S. Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Huỳnh Thị Thu H và ông Nguyễn Đức S có 02 con chung là Nguyễn Hoàng Tâm T, sinh ngày 04/8/2017 và Nguyễn Hoàng Bảo T, sinh ngày 02/6/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Huỳnh Thị Thu H kiện Ông Nguyễn Đức S, yêu cầu được ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Thu H đối với ông Nguyễn Đức S về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26-09-2024
Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Hùng

Ông Đinh Văn Tân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Ảnh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Nguyệt- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 09 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 498/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 20 tháng 08 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 46/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/9/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Thu H, sinh năm 1992

Địa chỉ: Tổ 8, thôn A, xã H, huyện N, tỉnh Q.

Bị đơn: Ông Nguyễn Đức S, sinh năm 1995

Địa chỉ: Tổ 7, Ấp N, xã B, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày: Qua quá trình tìm hiểu, bà và ông Nguyễn Đức S tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2017, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 27 ngày 10/5/2017). Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì đến khoảng cuối năm 2019 thì hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn.

Nguyên nhân là do trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra cải vã do bất đồng quan điểm. Năm 2019 ông S tự ý bỏ nhà đi. Sau khi ông S bỏ nhà đi thì bà và con chuyển về quê tại Q sống cho đến nay. Trong thời gian này, bà và ông S cũng như gia đình hai bên đã cố gắng hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả gì.

Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Đức S.

- Về con chung: Bà và ông S có 02 con chung: Nguyễn Hoàng Tâm T, sinh ngày 04/8/2017 và Nguyễn Hoàng Bảo T, sinh ngày 02/6/2019. Bà làm nghề buôn bán, thu nhập 12.000.000 đồng/tháng nên bà có khả năng cũng như thời gian chăm sóc các con tốt nên bà có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung cho đến khi các con trưởng thành. Không yêu cầu ông S phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà và ông S tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Đức S vắng mặt và không gửi ý kiến cho Tòa án, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng và quan điểm giải quyết trong vụ án:

Về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý vụ án đúng theo thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật về nội dung tranh chấp, thu thập chứng cứ đầy đủ và xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng nguyên tắc xét xử trong phiên tòa sơ thẩm.

Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt, vi phạm quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của bà H, Tòa án đã triệu tập ông Sâm để làm việc, hòa giải hôn nhân nhưng ông Nguyễn Đức S không đến Tòa làm việc. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông S đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thu H. Về con chung: Bà H và ông S có 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Tâm T, sinh ngày 04/8/2017 và Nguyễn Hoàng Bảo T, sinh ngày 02/6/2019. Bà H có công việc, thu nhập ổn định do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao 02 con chung cho bà Huỳnh Thị Thu H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con trưởng thành. Bà H không yêu cầu ông S phải cấp dưỡng nuôi con nên ông S không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, Tòa án nhận định như sau:

Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung; nơi cư trú hiện nay của ông Nguyễn Đức S là tại Ấp N, xã B, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà Huỳnh Thị Thu H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Đức S đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bà H, ông S theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2 Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thu H và ông Nguyễn Đức S tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 27 ngày 10/05/2017. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông S là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, bà H và ông S phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng luôn trong tình trạng căng thẳng. Từ năm 2019 cho đến nay, bà H và ông S đã ly thân, bà H cùng với con về quê ngoại sinh sống tại Q, không còn sống cùng với ông S nữa.

Mặc khác, sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của bà H, Tòa án đã triệu tập ông Nguyễn Đức S lên Tòa để làm việc nhưng ông S vẫn vắng mặt, điều này chứng tỏ ông S không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Nhận thấy, mâu thuẫn giữa bà Huỳnh Thị Thu H và ông Nguyễn Đức S đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Do đó, áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thu H.

2.2 Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà H và ông S có 02 con chung là Nguyễn Hoàng Tâm T, sinh ngày 04/8/2017 và Nguyễn Hoàng Bảo T, sinh ngày 02/6/2019. Sau khi ly hôn, bà H có nguyện vọng được nuôi dưỡng 02 con chung đến khi các con đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông S phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy: Bà H hiện nay có việc làm, thu nhập và có chỗ ở ổn định. Trong khi ông S không có ý kiến gì về việc nuôi con. Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, Hội đồng xét xử quyết định giao 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Tâm T và Nguyễn Hoàng Bảo T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến khi các con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Do bà H không yêu cầu nên ông S không phải cấp dưỡng nuôi con.

2.3 Về tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Thu H phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; 147, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Thu H đối với ông Nguyễn Đức S về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Đức S.

- Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Huỳnh Thị Thu H và ông Nguyễn Đức S có 02 con chung là Nguyễn Hoàng Tâm T, sinh ngày 04/8/2017 và Nguyễn Hoàng Bảo T, sinh ngày 02/6/2019.

Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Tâm T, sinh ngày 04/8/2017 và Nguyễn Hoàng Bảo T, sinh ngày 02/6/2019 cho bà Huỳnh Thị Thu H được trực tiếp nuôi duỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi các con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Nguyễn Đức S không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, ông Nguyễn Đức S được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm:

Bà Huỳnh Thị Thu H phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng số 0001720 ngày 27/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức. Như vậy, bà H đã nộp xong.

3. Trong hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ