- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN DIỂM M - TRƯƠNG MINH T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Diểm M và anh Trương Minh T ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19-8-2024 “V/v ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN-TỈNH KIÊN GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1- Ông Huỳnh Công Thân.
2- Bà Đoàn Hồng Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Điền, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang: Bà Lai Thị Ngọc Thuý - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 186/2024/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 128/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Diểm M, sinh ngày 20/8/1995 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp 14, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.
2- Bị đơn: Anh Trương Minh T, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp X.A, xã N.A, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 27/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Diểm My trình bày và yêu cầu như sau:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Diểm M và anh Trương Văn T kết hôn với nhau năm 2012, có tổ chức lễ cưới theo phong tục ở địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 20/01/2016 tại Ủy ban nhân dân xã N.A, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Vợ chồng chung sống được một thời gia thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng không hoà hợp, thường cự cải nhau, làm cho hạnh phúc gia đình không còn nữa, đến năm 2019 anh T bỏ chị đi sống chung với người phụ nữ khác, từ đó vợ chồng đã ly thân với nhau từ năm 2022 cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu xin ly hôn với anh Trương Minh T.
Về con chung: Có 02 người con tên Trương Đan H, sinh ngày 19/12/2012, hiện đang sống với anh T và Trương Như Y, sinh ngày 18/10/2018, hiện đang sống với chị M. Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi con Trương Như Y, chị đồng ý giao Trương Đan H cho anh T nuôi dưỡng, chị và anh T không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Chị thừa nhận không có nên không yêu cầu giải quyết.
Đối với bị đơn anh Trương Minh T Tòa án đã tống đạt hợp lệ gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị Nguyễn Diểm M.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Nguyễn Diểm M vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như sau:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Diểm M yêu cầu ly hôn với anh Trương Minh T.
Về con chung: Chị Nguyễn Diểm M yêu cầu nuôi con tên Trương Như Y và chị giao con tên Trương Đan H cho anh T nuôi dưỡng. Chị và anh T không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Diểm M thừa nhận không có nên không yêu cầu giải quyết.
Quan điểm của đại viện Viện kiểm sát:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tuân thủ và chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.
Về giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Ghi nhận yêu cầu của chị Nguyễn Diểm M xử cho chị Nguyễn Diểm M và anh Trương Minh T được ly hôn.
Về con chung: Ghi nhận yêu cầu của chị Nguyễn Diểm M xử giao cháu Trương Như Y, sinh ngày 18/10/2018 cho chị M chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Trương Đan H, sinh ngày 19/12/2012 (theo nguyện vọng của cháu H) cho anh T nuôi dưỡng. Chị M và anh T không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Diểm M thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền xét xử: Đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con và bị đơn trong vụ án có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử là đúng thẩm quyền.
Về thủ tục tố tụng: Đối với anh Trương Minh T được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với anh Trương Minh T.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Diểm M và anh Trương Văn T kết hôn với nhau năm 2012 và có đăng ký kết hôn ngày 20/01/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Nam.A, huyện A, tỉnh Kiên Giang nên hôn nhân của chị M và anh T là hợp pháp.
Về mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng thiếu tinh tưởng nhau dẫn đến cự cãi nhau, làm cho hạnh phúc gia đình không còn nữa, từ đó vợ chồng đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay, trong thời gian vợ chồng ly thân anh chị và gia định cũng không tự hoà giải với nhau được.
Từ đó, xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Diểm M xử cho chị Nguyễn Diểm M và anh Trương Minh T ly hôn là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị Nguyễn Diểm M và anh Trương Minh T có 02 người con tên Trương Đan H, sinh ngày 19/12/2012 và Trương Như Y, sinh ngày 18/10/2018, khi ly hôn chị M yêu cầu nuôi con Trương Như Y và chị giao cháu Trương Đan H cho anh T nuôi dưỡng và chị và anh T không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy yêu cầu của chị M là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì, từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay chị M là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Y, còn anh T là người nuôi dưỡng cháu H, cuộc sống của các cháu hiện nay cũng ổn định, đồng thời cũng theo nguyện vọng của cháu H và bản thân chị M và anh T cũng có điều kiện để nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Diểm M, xử giao cháu Trương Như Y cho chị M chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Trương Đan H (theo nguyện vọng của cháu H) cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng, chị M và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Diểm M thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Diểm M phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Vậy chị M đã nộp đủ tiền án phí.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận, như đã nhận định nêu trên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
1.Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Diểm M và anh Trương Minh T ly hôn.
2.Về con chung: Xử giao cháu Trương Như Y, sinh ngày 18/10/2018 cho chị Nguyễn Diểm M chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Trương Đan H, sinh ngày 19/12/2012 (theo nguyện vọng của cháu H) cho anh Trương MinhT chăm sóc, nuôi dưỡng, chị M và anh T không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị M và anh T có quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Khi cần thiết chị M và anh T có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Diểm M thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Diểm M phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), theo lai thu số: 0003213 ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy, chị M đã nộp đủ tiền án phí.
5. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho chị M biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/8//2024). Đối với anh T vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện An Biên; - THADS huyện An Biên; - Các đương sự; - Lưu Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký và đóng dấu Phạm Thanh Tâm |