vanban.org

Bản án 87/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 26/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn S phạm tội: Trộm cắp tài sản. Xử phạt bị cáo Lò Văn S 9 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/01/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lò Văn S, phạm tội: Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN CHÂU
TỈNH SƠN LA
Bản án số: 87/2023/HSST
Ngày: 26 - 4 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lường Thị Hương;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lò Văn Quốc;

Ông Phạm Ngọc Thiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Lường Văn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2023/HSST ngày 28/3/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2023/QĐXX-HS, ngày 13 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Lò Văn S; tên gọi khác: Không; sinh năm: 2000; tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản T, xã TM, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lò Văn D, sinh năm: 1979 và bà Cà Thị B (đã chết); bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 15/01/2023. Có mặt.

- Bị hại: Anh Bạc Cầm P; địa chỉ: Bản CL, xã CL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn N; địa chỉ: Thôn S, xã TL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 14/01/2023 Lò Văn S, đi bộ từ nhà ở Bản T, xã TM, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La lên nhà ông Bạc Cầm P; trú tại: bản CL, xã CL, huyện Thuận Châu (là người quen) để chơi. Đến nơi, Lò Văn S gặp ông Bạc Cầm P và bà Bạc Thị Bn (vợ ông P) đang cho bỏ ăn cỏ, lúc này Lò Văn S đã nảy sinh ý định trộm tài sản của nhà ông Bạc Cầm P. Quan sát trong nhà thấy ở trên tưởng nhà có 01 chiếc áo khoác bò màu xanh của ông Bạc Cầm P đang treo ở trên tường. Lò Vă Sớm tiến lại gần để lục tìm tài sản trong túi áo thì phát thấy bên trong túi áo có 01 chiếc ví màu nâu bên trong có tiền, Lò Văn S lấy toàn bộ số tiền có mệnh giá 500.000 đồng bên trong ví và để lại chiếc vị trong túi áo rồi đi ra khỏi nhà ông Bạc Cầm P, đếm được tổng số tiền là 4.000.000 đồng. Sau đó Lò Văn S mang tiền đi trả nợ cho ông Phạm Văn N 1.500.000 đồng và mua sắm hết 625.000 đồng. Đến sáng ngày 15/01/2023 Lò Văn S bị ông Bạc Cầm P phát hiện và đưa về trụ sở Công an xã CL, huyện Thuận Châu yêu cầu điều tra làm rõ. Tại Công an xã CL, huyện Thuận Châu, Lò Văn S đã thừa nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt số tiền 4.000.000 đồng của Bạc Cẩm Phượng và tự giác giao nộp số tiền 775 000 đồng; 01 (một) chiếc áo khoác nỉ dài tay, màu nâu, trên áo có ghi dòng chữ “1991 - MADE NAGAWE BLUE”; 01 (một) chiếc thắt lưng màu đen trên mặt thắt lưng có chữ “G” do bị can Lò Văn S giao nộp.

Ngày 15/01/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đã tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi Lò Văn S thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Thu giữ của ông Bạc Cầm P: 01 (một) chiếc ví màu nâu có 02 ngăn, mặt ngoài ví có in chìm dòng chữ H2 LEATHER 100% thu trong quá trình khám nghiệm hiện trường; 01 (một) chiếc áo khoác bò dài tay, màu xanh, mặt trong cổ áo có ghi dòng chữ “LEVI'S” thu trong quá trình khám nghiệm hiện trường.

Ngày 18/01/2023 ông Phạm Văn N đã tự giác giao nộp cho CQCSĐT Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La số tiền 1.500.000 đồng do Lò Văn S phạm tội mà có.

Bản Kết luận giám định số 264/KL-KTHS ngày 17/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Số tiền VNĐ gửi giám định là tiền thật”. Hoàn lại toàn bộ đối tượng gửi giám định.

Bản Kết luận giám định số 273/KL-KTHS ngày 19/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Số tiền VNĐ gửi giám định là tiền thật”. Hoàn lại toàn bộ đối tượng gửi giám định.

Ngày 09/3/2023 Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đã trả lại cho bị hại ông Bạc Cầm P: Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là 2.275.000 đồng (trong đó: 775.000 đồng do bị cáo Lò Văn S giao nộp và 1.500.000 đồng thu giữ của ông Phạm Văn N); 01 (một) chiếc ví màu nâu có 02 ngăn, mặt ngoài ví có in chìm dòng chữ H2 LEATHER 100%; 01 (một) chiếc áo khoác bò dài tay, màu xanh, mặt trong cổ áo có ghi dòng chữ “LEVI'S”.

* Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại ông Bạc Cầm P đã được nhận lại tài sản bị cáo Lò Văn S chiếm đoạt số tiền 2.275.000 đồng, còn lại số tiền 1.725.000 đồng, ngày 13/4/2023 ông Bạc Cầm P có đơn đề nghị không yêu cầu bị cáo Lò Văn S phải bồi thường và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn N không có yêu cầu gì.

Bản cáo trạng số: 38/CT-VKS, ngày 28/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Lò Văn S về tội: Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La trong phần tranh tụng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn S về điều, khoản và tội danh trên.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn S phạm tội: Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn S12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lò Văn S.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự:

Chấp nhận việc bị hại ông Bạc Cầm P đã được nhận lại tài sản bị cáo Lò Văn S chiếm đoạt số tiền 2.275.000 đồng, còn lại số tiền 1.725.000 đồng, ngày 13/4/2023 ông Bạc Cầm P có đơn đề nghị không yêu cầu bị cáo Lò Văn S phải bồi thường và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Chấp nhận việc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn N không có yêu cầu gì.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) chiếc áo khoác nỉ dài tay, màu nâu, trên áo có ghi dòng chữ “1991 - MADE NAGAWE BLUE”; 01 (một) chiếc thắt lưng màu đen trên mặt thắt lưng có chữ “G” do bị can Lò Văn S giao nộp

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La trả lại tài sản cho bị hại ông Bạc Cầm P: Tổng số tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là 2.275.000 đồng; 01 (một) chiếc ví màu nâu có 02 ngăn, mặt ngoài ví có in chìm dòng chữ H2 LEATHER 100% thu trong quá trình khám nghiệm hiện trường; 01 (một) chiếc áo khoác bò dài tay, màu xanh, mặt trong cổ áo có ghi dòng chữ “LEVI'S” thu trong quá trình khám nghiệm hiện trường.

Về án phí: Bị cáo phải chịu toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Ý kiến của bị cáo: Nhất trí như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Bị hại ông Bạc Cầm P, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn N đã được triệu tập hợp lệ, bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 3 Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

. Tại phiên toà bị cáo Lò Văn S thừa nhận: Ngày 14/01/2023 Lò Văn Sớm đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 4.000.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam của ông Bạc Cầm P.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ.

Do vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lò Văn S đã phạm vào tội: Trộm cắp tài sản, được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng với lỗi cố ý. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo Lò Văn S không có tiền án, tiền sự.

. Bị cáo Lò Văn S đang bị tạm giam, tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp. Không áp dụng hình phạt bổ sung ( phạt tiền) đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại ông Bạc Cầm P đã được nhận lại tài sản số tiền 2.275.000 đồng. Ngày 13/4/2023 ông Bạc Cầm P có đơn đề nghị không yêu cầu bị cáo Lò Văn S phải bồi thường và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn N không có yêu cầu gì. Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự cần được chấp nhận.

. Về vật chứng:

Đối với 01 (một) chiếc áo khoác nỉ dài tay, màu nâu, trên áo có ghi dòng chữ “1991 - MADE NAGAWE BLUE”; 01 (một) chiếc thắt lưng màu đen trên mặt thắt lưng có chữ “G” thu giữ của bị can Lò Văn S, là tài sản do phạm tội mà có, cần tuyên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 2.275.000 đồng (trong đó: 775.000 đồng do bị cáo Lò Văn S giao nộp và 1.500.000 đồng thu giữ của ông Phạm Văn N); 01 (một) chiếc ví màu nâu có 02 ngăn, mặt ngoài ví có in chìm dòng chữ H2 LEATHER 100%; 01 (một) chiếc áo khoác bò dài tay, màu xanh, mặt trong cổ áo có ghi dòng chữ “LEVI'S”. Ngày 09/3/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La trả lại tài sản cho bị hại ông Bạc Cầm P chủ sở hữu hợp pháp cần được chấp nhận.

Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Đối với ông Phạm Văn N là người đã được Lò Văn S trả lại số tiền nợ 1.500.000 đồng. Quá trình điều tra xác định ông Phạm Văn N không biết là tài sản phạm tội mà có. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La không điều tra, xử lý đối với ông Phạm Văn N là có căn cứ đúng pháp luật.

. Về án phí: Bị cáo Lò Văn S phải chịu toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn S phạm tội: Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Lò Văn S 9 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/01/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lò Văn S.

2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự.

Chấp nhận việc bị hại Bạc Cầm P đã được nhận lại tài sản do bị cáo Lò Văn S chiếm đoạt số tiền 2.275.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Chấp nhận việc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn N không có yêu cầu gì.

3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) chiếc áo khoác nỉ dài tay, màu nâu, trên áo có ghi dòng chữ “1991 - MADE NAGAWE BLUE”; 01 (một) chiếc thắt lưng màu đen trên mặt thắt lưng có chữ “G”, đã qua sử dụng cũ.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27 tháng 3 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La).

- Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La trả lại cho bị hại Bạc Cầm P số tiền 2.275.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; 01 (một) chiếc ví màu nâu có 02 ngăn, mặt ngoài ví có in chìm dòng chữ H2 LEATHER 100%; 01 (một) chiếc áo khoác bò dài tay, màu xanh, mặt trong cổ áo có ghi dòng chữ “LEVI'S”.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14; ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Lò Văn S phải chịu toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo Lò Văn S có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/4/2023).

Bị hại ông Bạc Cầm P; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.

Cỡ chữ