vanban.org

Bản án 87/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 08/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/9/2022 Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Sau khi án có hiệu lực pháp luật, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định chứa trong một phong bì ma túy niêm phong… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T (TTMT) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 87/2023/HS-ST
Ngày: 08/02/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Luận

2. Ông Phạm Văn Tiến

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hiến - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc An - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 02 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 81/2022/ HSST ngày 28 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 01 năm 2023 đối với:

Bị cáo Nguyễn Văn T , Sinh năm 1988; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Số nhà ... TS, phường AH, thành phố TH, tinh TH; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị N sinh năm1961; Vợ Lê Thị H , sinh năm 1992; Bị cáo có 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2022 chuyển tạm giam ngày 30/9/2022. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ, công an thành phố Thanh Hóa. (Có mặt)

Người có QLNVLQ: Chị Lê Thị H , sinh năm 1992)

Trú tại: Số nhà ... TS, phường AH, thành phố TH, tỉnh TH. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 25 phút ngày 23/9/2022, Tổ công tác Công an phường An Hưng, TP. Thanh Hóa thực hiện nhiệm vụ tuần tra trên tuyến đường phố Tây Sơn, phường An Hưng, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, khi đến trước số nhà 72 phố Tây Sơn tổ công tác phát hiện Nguyễn Văn T đang điều khiển xe mô tô BKS 36B7-717.71 có biểu hiện liên quan đến ma túy nên đã tiến hành dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện thu giữ trong túi quần bên trái của T 02 gói giấy màu trắng kích thước mỗi gói khoảng 0,5x01 cm, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, T khai nhận đây là 02 gói ma túy Heroine T cất giấu để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng chuyển Công an TP Thanh Hóa gửi giám định theo quy định.

Ngoài ra còn thu của Thái 01 xe mô tô nhãn hiệu Vision màu trắng sữa BKS 36B7- 717.71.

Tại Kết luận giám định số 3316 ngày 27/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột màu trắng của phòng bì niêm phong do Công an phường An Hưng phát hành gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,263 gam, loại Heroine.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T khai: Do bản thân nghiện ma túy, nên khoảng 18 giờ ngày 23/9/2022, T điều khiển xe mô tô BKS 36B7- 717.71 đến nhà bạn tên H (thuộc phường ĐL, thành phố TH, tỉnh TH) nhờ H mua ma túy để về sử dụng. Tại đây T đưa cho H 500.000đ nhờ H mua ma túy, H cầm tiền đi, đến hoảng 19 giờ thì H quay về và đưa cho T 02 gói giấy có chứa ma túy và số tiền thừa 100.000đ, T cất tiền và 02 gói ma túy vào túi quần bên trái rồi đi về nhà để sử dụng, trên đường về đến trước số nhà ... TS, phường AH, thành phố TH, tỉnh TH thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang. T không biết số ma túy trên H mua của ai, ở đâu.

Căn cứ lời khai của T Cơ quan điều tra đã tiến hành cho T nhận dạng, xác minh nhân thân lý lịch của người tên H mà T khai đã mua ma túy hộ cho T . Kết quả xác định người này là Trần Công H , sinh năm 1983, trú tại thôn VN, phường ĐL, TPTH. Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập H đến để làm rõ việc T khai H mua hộ ma túy cho T , song H không có mặt theo giấy triệu tập. Qua xác minh, H không có mặt tại nơi cư trú, gia đình H không biết H đi đâu làm gì.

Ngoài lời khai của T Cơ quan điều tra không có tài liệu chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ kết luận đối với H . Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý khi có đủ căn cứ.

Vật chứng vụ án hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thanh Hóa gồm: Một phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự, kèm chữ ký, chữ viết của Lại Thị Thanh Loan, Trịnh Tuấn Nhật, Phùng Thiên Dũng theo “Biên bản giao nhận vật chứng” số 45/THA ngày 27/12/2022 giữa Công an thành phố Thanh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Đối với xe mô tô BKS 36B7- 717.71 xác định chủ sở hữu là chị Lê Thị H (vợ T ) ngày 23/9/2022 chị để xe ở nhà, T lấy xe đi, chị H không biết việc T sử dụng xe của chị đi mua ma túy. Do đó Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho chị H . Chị H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.

Tại Cáo trạng số 42/CTr-VKS ngày 26/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - của Bộ luật hình sự tuyên bố Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Xử phạt Nguyễn Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ; Vật chứng vụ án: áp dụng khoản 2 điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội; Không bào chữa; Không tranh luận với đại diện VKS. Lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng khoan hồng với mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Căn cứ mục đích, hành vi của bị cáo và kết quả giám định có đủ cơ sở kết luận: Hồi 19 giờ 25 phút ngày 23/9/2022 tại trước số nhà 72 Tây Sơn, phường An Hưng, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Văn T đã có hành vi cất giữ trái phép 0,263g chất ma túy, loại Heroin nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân TP. Thanh Hóa truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án: Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lí của Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma túy. Xâm phạm trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân dẫn đến những hành vi phạm tội khác nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc để răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Nhân thân tốt. Vì vậy, HĐXX xem xét để giảm cho bị cáo một phần hình phạt, đảm bảo sự khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên cần cách li bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng xã hội một thời gian đề cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội và để phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với Nguyễn Công H là người bị cáo T khai đã mua ma túy hộ cho bị cáo, hiện tại H không có mặt tại nơi cư trú, không xác định được hiện H ở đâu. Ngoài lời khai của T không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh H mua ma túy cho T , Cơ quan CSĐT tiếp tục xác minh xử lý đối với H nếu có căn cứ là đúng.

Vật chứng vụ án: Số ma túy mẫu vật còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy khi án có hiệu lực pháp luật theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 - BLTTHS.

Đối với chiếc xe máy BKS 36B7-717.71 mà T dùng để đi mua ma túy, qua điều tra xác định là xe của chị Lê Thị H , chị H không biết việc T sử dụng xe của chị đi mua ma túy. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H là đúng quy định.

Về dân sự: Chị Lê Thị H không có yêu cầu gì, HĐXX không xét.

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/9/2022

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Sau khi án có hiệu lực pháp luật, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định chứa trong một phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự, kèm chữ ký, chữ viết của Lại Thị Thanh Loan, Trịnh Tuấn Nhật, Phùng Thiên Dũng theo “Biên bản giao nhận vật chứng” số 45/THA ngày 27/12/2022 giữa Công an thành phố Thanh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

- Về dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Thị H không có yêu cầu giải quyết.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 - BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ án phí HSST.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chị Lê Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ