vanban.org

Bản án 87/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 26/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Bá T phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Bá T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/6/2023. *. Về vật chứng và xử lý vật chứng: căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bá T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Bá T phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ M

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
_______________________
Bản án số: 87/2023/HS-ST
Ngày: 26/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Thùy Dương

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Đinh Thanh Hoàn

- Ông Nguyễn Thế Căn

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Bá T (tên gọi khác: không); sinh ngày 04/12/1981, tại quận L, thành phố Hải Phòng; nơi thường trú: khu H, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Vũ Thị H; có vợ Nguyễn Thị T và 02 con; tiền án, tiền sự: chưa; nhân thân: ngày 23/3/2001, Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố M) xử phạt 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, về tội “trộm cắp tài sản”; ngày 18/6/2003, Ủy ban nhân dân quận L, thành phố Hải Phòng ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 12 (mười hai) tháng; ngày 15/6/2009, Tòa án nhân dân thành phố M xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”; ngày 05/12/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phúc thẩm phạt 09 (chín) năm tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 05/11/2017 chấp hành xong bản án. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 12/6/2023, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến: anh Đinh Công L, sinh năm 1970; nơi thường trú: khu H, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 10 giờ ngày 10/6/2023, Nguyễn Bá T đến khu vực cầu A, thành phố Hải Phòng, gặp và mua của một người đàn ông tên là T (không rõ lai lịch, địa chỉ) 1.600.000đ ma túy Heroine. Sau khi mua, T lấy một phần ma tuý sử dụng rồi đón xe khách về huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh chơi. Tại đây, T tiếp tục lấy một phần ma túy ra sử dụng, số ma túy còn lại cất giấu trong người để sử dụng sau. Khoảng 11 giờ ngày 12/6/2023, T đón xe khách đến nhà của anh Đinh Mậu T ở khu H, phường N, thành phố M chơi. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, T đi ra đến đoạn đường H thuộc khu H, phường N, thành phố M thì bị Tổ công tác của Công an thành phố M phối hợp với Công an tỉnh Quảng Ninh phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của T: 01 túi nilon chứa chất bột màu trắng dạng cục; 01 dao lam; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000đ được cuốn thành ống hút, một đầu đã bị đốt; 01 cân tiểu ly điện tử; 01 vỏ bao thuốc lá; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO lắp sim số 0946.797.318 và số tiền 7.300.000đ (bảy triệu, ba trăm nghìn đồng).

Tại bản Kết luận giám định số: 800/KL-KTHS ngày 19/6/2023, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: mẫu vật thu giữ của Nguyễn Bá T gửi giám định là ma túy; loại Heroine; khối lượng: 1,184g (một phẩy một tám bốn gam).

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có lời khai như nội dung vụ án. Ngoài ra, T còn khai nhận nguồn gốc số ma túy trên do T mua của một người đàn ông tên T (không rõ lai lịch, địa chỉ) ở khu vực cầu A, thành phố Hải Phòng với giá 1.600.000đ ma tuý Heroine, để sử dụng.

Người chứng kiến anh Đinh Công L vắng mặt nhưng có lời khai trong hồ sơ thể hiện: khoảng 13 giờ ngày 12/6/2023, khi anh L đi đến Tivi to thuộc khu H, phường N, thành phố M, anh L được lực lượng Công an mời chứng kiến việc kiểm tra nam thanh niên. Khi đấy, anh L thấy nam thanh niên khai tên là T, sinh năm 1981, trú tại: phường N, thành phố M. Khi bị kiểm tra, anh L thấy lực lượng công an thu giữ 01 (một) túi nilon màu trắng dưới chân T đứng, bên trong có chứa một viên màu trắng, khi được hỏi T khai nhận viên màu trắng đựng trong túi nilon màu trắng trên là ma túy Heroine do Tôn mua về để sử dụng cho bản thân.

Đối với người đàn ông tên T đã bán trái phép chất ma túy cho T, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Tại bản Cáo trạng số: 85/CT-VKS-MC, ngày 12/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố M truy tố bị cáo Nguyễn Bá T về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã giữ nguyên quyết định truy tố và luận tội đối với bị cáo Nguyễn Bá T. Sau khi phân tích nội dung vụ án, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị với Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá T phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Bá T từ 24 (hai mươi bốn) đến 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/6/2023.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Bá T.

Về vật chứng và xử lý vật chứng: căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 1,13g (một phẩy một ba gam) ma túy, loại Heroine được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật. Mặt trước phong bì ghi: “mẫu vật hoàn lại kèm theo kết luận giám định số: 800/KL-KLHS ngày 19/6/2023”; 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu đen; 01 (một) cân tiểu ly điện tử; 01 (một) dao lam; 1.000đ (một nghìn đồng) (một đầu đã bị đốt, giá trị nhỏ không đáng kể). Trả lại cho bị cáo Nguyễn Bá T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, bên trong lắp 01 sim, máy đã qua sử dụng; 7.300.000đ (bảy triệu, ba trăm nghìn đồng);

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng truy tố bị cáo. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: tại phiên toà bị cáo Nguyễn Bá T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như vật chứng đã thu giữ; biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và phù hợp với lời khai của người chứng kiến. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/6/2023, tại khu H, phường N, thành phố M, Nguyễn Bá T có hành vi cất giấu trái phép 1,184g (một phẩy một tám bốn gam) ma túy, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng, thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Nguyễn Bá T đã cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố M truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi nhận thức rõ tác hại của ma túy, để thỏa mãn nhu cầu riêng của bản thân bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, vì vậy cần xử lý nghiêm, mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng ngừa chung.

[3] Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Bá T có nhân thân xấu ngày 23/3/2001, Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố M) xử phạt 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, về tội “trộm cắp tài sản”; ngày 18/6/2003, Ủy ban nhân dân quận L, thành phố Hải Phòng ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 12 (mười hai) tháng; ngày 15/6/2009, Tòa án nhân dân thành phố M xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”; ngày 05/12/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phúc thẩm phạt 09 (chín) năm tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy”.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Bá T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử, xét thấy cần thiết ấn định mức hình phạt nghiêm trong khung đã truy tố đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng và xử lý vật chứng:

- Sau khi giám định, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh hoàn lại Cơ quan CSĐT Công an thành phố M là 1,13g (một phẩy một ba gam) ma túy, loại Heroine kèm theo kết luận giám định số: 800/KL-KLHS ngày 19/6/2023 theo đúng quy định của pháp luật là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu đen; 01 (một) cân tiểu ly điện tử; 01 (một) dao lam bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 1.000đ (một nghìn đồng) bị cáo cuốn thành ống hút để sử dụng ma túy, một đầu đã bị đốt là tiền do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành cần tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền 7.300.000đ (bảy triệu, ba trăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, bên trong lắp 01 sim số 0946.797.318, máy đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Nguyễn Bá T là tài sản hợp pháp của bị cáo T không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Bá T (theo biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản số: 25/BBBQ-CSĐT ngày 24/8/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M và Kho bạc Nhà nước M).

[7] Về nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm: cần buộc bị cáo Nguyễn Bá T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Đối với người đàn ông tên T đã bán trái phép chất ma túy cho T, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Bá T phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Bá T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/6/2023.

*. Về vật chứng và xử lý vật chứng: căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy: 1,13 gam (một phẩy một ba gam) ma túy, loại Heroine được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật. Mặt trước phong bì ghi: “mẫu vật hoàn lại kèm theo kết luận giám định số: 800/KL-KLHS ngày 19/6/2023”; 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu đen; 01 (một) cân tiểu ly điện tử; 01 (một) dao lam;

- Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước: 1.000đ (một nghìn đồng);

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Bá T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, số IMEI 1: 862177058239339, số IMEI 2: 862177058239321, bên trong lắp 01 sim số 0946.797.318, máy đã qua sử dụng; 7.300.000đ (bảy triệu, ba trăm nghìn đồng) (theo biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản số: 25/BBBQ-CSĐT ngày 24/8/2023 giữa Kho bạc nhà nước M và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M);

(tình trạng số vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng số: 113/2023/THA, ngày 12 tháng 9 năm 2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M, tỉnh Quảng Ninh và Cơ quan CSĐT Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh).

*. Về nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Bá T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

*. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ