vanban.org

Bản án 87/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 10/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh P, Trương Minh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2023. Xử phạt bị cáo Trương Minh T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh P, Trương Minh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2023/HS-ST
Ngày 10 – 5 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Kha.

Ông Bùi Đức Thắng – Giáo viên trường THPT Cà Mau.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Huyền Trang – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thông Hiểu - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 09, 10 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Nguyễn Minh P, tên gọi khác: T, sinh ngày 13/4/2006; tại Cà Mau; nơi cư trú: Khóm S, phường N, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh Th’ (đã chết) và bà Nguyễn Ngọc L (còn sống); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ ngày 08/01/2023; chuyển tạm giam từ ngày 14/01/2023 cho đến nay (Bị cáo có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo P: Ông Đặng Minh Hải – Là Luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Đại diện hợp pháp của bị cáo P: Bà Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1977 (mẹ ruột bị cáo). Nơi cư trú: Khóm S, phường N, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

2/ Họ và tên: Trương Minh T, tên gọi khác: T max, sinh ngày 10/10/2003; tại Cà Mau; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn Ph và bà Phạm Thị Mộng Th (cả hai còn sống); vợ, con: Chưa có; tiền án: Ngày 21/12/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong ngày 06/02/2022; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ ngày 08/01/2023; chuyển tạm giam từ ngày 11/01/2023 đến nay (Bị cáo có mặt).

- Bị hại:

Bà Lâm Thị H, sinh năm 1962 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp H, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08/01/2023, Trương Minh T điều khiển xe mô tô biển số 95B1-174.83 chở Nguyễn Minh P từ xã Tân Thành, thành phố Cà Mau về huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Khi cả hai đến ấp Hòa Trung, xã Hòa Thành, thành phố Cà Mau thì ghé vào tiệm tạp hóa Hồng Đ của bà Lâm Thị H mua 02 bịch bánh tráng, 01 bịch sò nuôi, 01 bịch khoai tây với giá 18.000 đồng, P trả tiền mệnh giá 50.000 đồng, bà Lâm Thị H thối lại cho P. Sau đó T tiếp tục điều khiển xe chở P đi được một đoạn thì P và T bàn tính quay lại cướp tiền của bà H do khi bà H thối tiền thì P thấy bà H có nhiều tiền, cả 02 đồng ý. T điều khiển xe chở P quay lại tiệm tạp hóa bà H, T ngồi trên xe nổ máy chờ sẵn còn P bước xuống xe vào tiệm tạp hóa mua 02 bịch bánh tráng, 01 bịch sô cô la với giá 12.000 đồng, P trả tiền mệnh giá 50.000 đồng cho bà H nhằm mục đích để bà H thối lại thì cướp giật. Khi bà H đang cầm tiền trên tay thối lại thì P giật lấy số tiền 4.592.000 đồng rồi nhanh chóng lên xe để T điều khiển tẩu thoát về hướng xã Hòa Thành, thành phố Cà Mau, khi đến cầu Đồng Tranh thì bị Công an xã Hòa Thành phát hiện, bắt giữ.

Vật chứng thu giữ:

Thu giữ của Nguyễn Minh P:

- Tiền Việt Nam là 4.592.000 đồng.

- 01 điện thoại di động hiệu J4+ màu đen màn hình bị vỡ, số điện thoại sim 2: 0859160448, số kiểu máy: SM-J415F/DS, số sê ri: R58KC1V5GKW.

- 01 cái áo khoác dài tay màu đen.

- 01 mũ bảo hiểm màu hồng.

Thu giữ của Trương Minh T:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung J4+ màu vàng Gold, mặt màn hình bị vỡ, số điện thoại: 0916945189, số kiểu máy SM-J415F/DS, số sê ri: R58KB3FSWJW.

- 01 cái áo khoác dài tay màu đen, trắng, xanh.

- 01 mũ bảo hiểm màu trắng.

Ngoài ra, kiểm tra trong cốp xe thu giữ của Trương Minh T:

- 01 chai hơi cay hiệu Nato loại 110ml, trên chai có ghi số 11130 (đã qua sử dụng).

- 01 ổ khóa hiệu HECHUANG có gắn sẵn chìa khóa.

- 01 đoạn kim loại màu trắng dài 11cm, đường kính khoảng 0,5cm có một đầu nhọn, đầu còn lại gắn 01 đoạn kim loại dạng tròn dài 2,5cm, đường kính 01cm.

- 01 cây nhíp.

- 01 chìa khóa đầu 10 và đầu 14.

- 01 chìa khóa đầu 8.

- 01 đoạn kim loại hình lục giác có dạng chữ “L”, tổng chiều dài 15cm, đường kính 01cm và có một đầu nhọn.

- 02 bù lon kim loại dài 19cm, đường kính 0,7cm.

- 01 cây vít dài 12cm.

Tại Cáo trạng số: 93/CT-VKS ngày 11/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đã truy tố các bị cáo Nguyễn Minh P, Trương Minh T về tội "Cướp giật tài sản" theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Minh P, Trương Minh T và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh P, Trương Minh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Về hình phạt: áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, 98, 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh P từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Minh T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Minh P 01 điện thoại di động hiệu Samsung J4+ màu đen, mặt sau màn hình bị vỡ, số điện thoại sim 2: 0859160448, số kiểu máy: SM-J415F/DS, số sê ri: R58KC1V5GKW;

+ Trả lại cho Trương Minh T: 01 điện thoại di động hiệu Samsung J4+ màu vàng Gold, mặt sau màn hình bị vỡ, số điện thoại: 0916945189, số kiểu máy SM-J415F/DS, số sê ri: R58KB3FSWJW.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 cái áo khoác dài tay màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu hồng (của Nguyễn Minh P), 01 cái áo khoác dài tay màu đen, trắng, xanh; 01 mũ bảo hiểm màu trắng (của Trương Minh T); 01 chai hơi cay hiệu Nato loại 110ml, trên chai có ghi số 11130 (đã qua sử dụng); 01 ổ khóa hiệu HECHUANG có gắn sẵn chìa khóa; 01 đoạn kim loại màu trắng dài 11cm, đường kính khoảng 0,5cm, một đầu nhọn, đầu còn lại kết dính 01 đoạn kim loại dạng tròn dài 2,5cm, đường kính 01cm; 01 cây nhíp; 01 chìa khóa đầu 10 và đầu 14; 01 chìa khóa đầu 8; 01 đoạn kim loại hình lục giác dạng chữ “L”, tổng chiều dài 15cm, đường kính 01cm và có một đầu nhọn; 02 bù lon kim loại dài 19cm, đường kính 0,7cm; 01 cây vít dài 12cm.

- Người bào chữa cho bị cáo P xác định Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Minh P về tội “Cướp giật tài sản” là đúng người đúng tội. Tuy nhiên, ngoài các tình tiết giảm nhẹ của đại diện Viện kiểm sát đã nêu, cần xem xét các tình tiết như: Khi phạm tội bị cáo 16 tuổi 09 tháng, độ tuổi chưa nhận thức đầy đủ hành vi, cha bị cáo chết sớm, bị cáo nghỉ học sớm và phải đi làm thuê kiếm sống. Từ những trình bày trên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc cho bị cáo được hưởng án treo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

- Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo, bị hại không khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định.

Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Minh P, Trương Minh T thừa nhận vào ngày 08/01/2023 lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của bà Lâm Thị H khi bán thực phẩm cho các bị cáo tại tiệm tạp hóa Hồng Đ thuộc ấp Hòa Trung, xã Hòa Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, bị cáo Nguyễn Minh P giật số tiền 4.592.000đ của bà Hòa và lên xe biển số 95B1-174.83 do Trương Minh T điều khiển tẩu thoát, các bị cáo giật tài sản nhằm mục đích chi xài cá nhân.

Lời khai nhận trên phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác đã thu thập được có tại hồ sơ. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo P là người dưới 18 tuổi, các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo T có nhân thân xấu, đã bị kết án, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy nên cần có mức hình phạt thật nghiêm tương xứng với hành vi của từng bị cáo đã thực hiện để có thời gian giáo dục, sửa chữa sai lầm, trở thành người có ích cho xã hội.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khi phạm tội bị cáo P là người dưới 18 tuổi nên cần xem xét tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bà Lâm Thị H đã nhận lại tài sản, hiện không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra xem xét.

Về vật chứng:

Đối với xe mô tô T chở P đi cướp giật. T khai do T và Lê Vũ K trộm cắp trên địa bàn xã Thạnh Phú, huyện Cái Nước. Sau khi trộm về nhà K tháo biển số và lấy biển số 95B1-174.83 có sẵn gắn vào đưa T chạy. Qua xác minh xác định xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, số loại: SATRIA, màu đen; số máy: CGA1ID226649; số khung: MH8DL11AZLJ226626, người đứng tên trên Giấy đăng ký mô tô, xe máy là ông Ngô Văn G. Ngày 28/12/2022 xe mô tô của ông bị mất trộm. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau ra Quyết định xử lý vật chứng bàn giao xe mô tô nêu trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Nước thụ lý, giải quyết. Đối với biển số 95B1-174.83, qua xác minh xác định chủ sở hữu là ông Giang Hoàng M. Ông Phạm Thanh G đã mua lại của ông M vào năm 2017 chưa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu. Ngày 04/4/2023, ông G trình báo tại Công an xã Tân Trung, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau về việc ngày 01/01/2023 ông bị mất xe mô tô nhãn hiệu EXCITER 135 màu xanh, trắng biển số 95B1-174.83. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau ra Quyết định xử lý vật chứng bàn giao biển số xe cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đầm Dơi thụ lý, giải quyết là phù hợp. Vì vậy không đặt ra xem xét trong vụ án này.

- Đối với hành vi tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ là bình xịt hơi cay của bị cáo Trương Minh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 289/QĐ-XPHC ngày 06/4/2023 nên không đặt ra xem xét.

- Đối với các vật chứng:

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung J4+ màu đen, mặt sau màn hình bị vỡ, số điện thoại sim 2: 0859160448, số kiểu máy: SM-J415F/DS, số sê ri: R58KC1V5GKW của bị cáo P; 01 điện thoại di động hiệu Samsung J4+ màu vàng Gold, mặt sau màn hình bị vỡ, số điện thoại: 0916945189, số kiểu máy SM-J415F/DS, số sê ri: R58KB3FSWJW của bị cáo T, đây là tài sản cá nhân của các bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo.

Đối với các tài sản gồm: 01 cái áo khoác dài tay màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu hồng của Nguyễn Minh P; 01 cái áo khoác dài tay màu đen, trắng, xanh; 01 mũ bảo hiểm màu trắng của Trương Minh T; 01 chai hơi cay hiệu Nato loại 110ml, trên chai có ghi số 11130 (đã qua sử dụng); 01 ổ khóa hiệu HECHUANG có gắn sẵn chìa khóa; 01 đoạn kim loại màu trắng dài 11cm, đường kính khoảng 0,5cm, một đầu nhọn, đầu còn lại kết dính 01 đoạn kim loại dạng tròn dài 2,5cm, đường kính 01cm; 01 cây nhíp; 01 chìa khóa đầu 10 và đầu 14; 01 chìa khóa đầu 8; 01 đoạn kim loại hình lục giác dạng chữ “L”, tổng chiều dài 15cm, đường kính 01cm và có một đầu nhọn; 02 bù lon kim loại dài 19cm, đường kính 0,7cm; 01 cây vít dài 12cm liên quan hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với đoạn Video trích xuất từ camera bị cáo thực hiện việc cướp giật tài sản của bị hại, xét thấy cần được lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Về án phí, các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 171 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh P, Trương Minh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 91, 98, 101 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2023.

- Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51; điềm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trương Minh T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2023.

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Minh P: 01 điện thoại di động hiệu Samsung J4+ màu đen, mặt sau màn hình bị vỡ, số điện thoại sim 2: 0859160448, số kiểu máy: SM-J415F/DS, số sê ri: R58KC1V5GKW;

Trả lại cho bị cáo Trương Minh T: 01 điện thoại di động hiệu Samsung J4+ màu vàng Gold, mặt sau màn hình bị vỡ, số điện thoại: 0916945189, số kiểu máy SM-J415F/DS, số sê ri: R58KB3FSWJW.

Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 cái áo khoác dài tay màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu hồng của Nguyễn Minh P.

+ 01 cái áo khoác dài tay màu đen, trắng, xanh; 01 mũ bảo hiểm màu trắng của Trương Minh T.

+ 01 chai hơi cay hiệu Nato loại 110ml, trên chai có ghi số 11130 (đã qua sử dụng); 01 ổ khóa hiệu HECHUANG có gắn sẵn chìa khóa; 01 đoạn kim loại màu trắng dài 11cm, đường kính khoảng 0,5cm, một đầu nhọn, đầu còn lại kết dính 01 đoạn kim loại dạng tròn dài 2,5cm, đường kính 01cm; 01 cây nhíp; 01 chìa khóa đầu 10 và đầu 14; 01 chìa khóa đầu 8; 01 đoạn kim loại hình lục giác dạng chữ “L”, tổng chiều dài 15cm, đường kính 01cm và có một đầu nhọn; 02 bù lon kim loại dài 19cm, đường kính 0,7cm; 01 cây vít dài 12cm.

- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo Nguyễn Minh P, Trương Minh T mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (Chưa nộp).

Các bị cáo, những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ