- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đàm Văn Ph - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Đàm Văn Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2023/HS-ST Ngày: 07/9/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN – TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Dương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Anh Đức.
2. Ông Vũ Đình Hưng.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Mai Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2023, tại hội trường xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 89/2023/TLST- HS ngày 16 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2023/QĐXXST - HS ngày 25 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Đàm Văn Ph (tên gọi khác: Không), sinh 06 tháng 6 năm 1998; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã Ngh, huyện P, tỉnh B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đàm Văn Ch và bà Bùi Thị H; vợ con chưa có; tiền án: 02 (Tại bản án hình sự sơ thẩm số 13/2021/HSST ngày 16/11/2021 của bị TAND huyện P, tỉnh B xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 49/2021/HSST ngày 21/12/2021 của TAND huyện B1, tỉnh B xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù tại bản án số 13/2021/HSST ngày 16/11/2021 của TAND huyện P, tỉnh B, buộc Đàm Văn Ph phải chấp hành hình phạt chung là 21 tháng tù, chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/3/2019, bị TAND thị xã Ph (nay là thành phố Ph), tỉnh Th ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng. Ngày 23/02/2021, bị Công an xã Ngh, huyện P, tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng.
Bị tạm giam từ ngày 09/6/2023 đến nay. Có mặt.
* Bị hại:
1. Anh Nguyễn Tiến Ch, sinh năm 1988; nghề nghiệp: Lao động tự do; trú tại: Tổ 8A, phường Ph, thành phố B, tỉnh B1. Vắng mặt.
2. Chị Đỗ Huyền D, sinh năm 1983; nghề nghiệp: Lao động tự do; trú tại: Tổ 8A, phường Phùng Chí Kiên, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1987; nghề nghiệp: Lao động tự do; trú tại: Tổ 1, phường Tân Th, thành phố Th, tỉnh Th1. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 28/5/2023, Đàm Văn Ph đi xe ôtô khách từ thành phố H đến thành phố B1, tỉnh B và nghỉ tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B. Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 29/5/2023, Phúc đi bộ từ Bệnh viện đa khoa tỉnh B theo đường Kon Tum hướng B – Th với mục đích tìm tài sản trộm cắp để bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi đến khu vực trước cửa nhà anh Nguyễn Tiến Ch, chị Đỗ Huyền D thuộc tổ 8A, phường Ph, thành phố B, thì thấy có 03 (Ba) xe môtô đang dựng trong sân nhà anh Chương, trong đó có 01 (Một) xe môtô nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA, màu xanh – đen – bạc, mang biển kiểm soát 97B1 – 981.xx có cắm chìa khóa điện ở xe nên Ph nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên. Ph đứng ngoài đường quan sát, thấy trong nhà và xung quanh không có người nên đã đi vào sân nhà anh Ch, sau đó bỏ chiếc mũ bảo hiểm trên xe sang xe môtô bên cạnh rồi quay đầu xe và dắt ra đến cổng rồi ngồi lên xe, nổ máy điều khiển xe đi theo hướng B – Th. Khi đến khu vực thành phố Th, tỉnh Th1, Ph đã cầm cố chiếc xe trên cho anh Nguyễn Văn Th lấy số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng), sau đó tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi phát hiện bị mất tài sản, anh Ch đã trình báo cơ quan Công an để giải quyết đồng thời giao nộp 03 (Ba) video trích xuất từ camera tại nhà anh Ch có ghi lại diễn biến sự việc. Cơ quan CSĐT Công an thành phố B1 tiến hành điều tra truy xét, ngày 08/6/2023 anh Nguyễn Văn Th đã giao chiếc xe trên cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố B1.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 152/KL-HĐĐGTSTXTTTHS ngày 01/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố B1 kết luận: Xe môtô nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA, màu sơn xanh – đen – bạc, biển kiểm soát 97B1 – 981.xx, số khung 3916LY270922, số máy JA39E1609295, đăng ký lần đầu ngày 09/9/2020. Giá trị tài sản là: 13.100.000 đồng (Mười ba triệu, một trăm nghìn đồng).
Tại bản cáo trạng số 64/CT-VKSTP ngày 15/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với Đàm Văn Ph về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 09/6/2023.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Miễn án phí hình sự theo quy định của pháp luật cho bị cáo.
* Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là không oan, đúng người, đúng tội và xin hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau.
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo thống nhất với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có cơ sở khẳng định:
Khoảng 07 giờ ngày 29/5/2023, tại tổ 8A, phường Ph, thành phố Bq, Đàm Văn Ph đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA, màu sơn xanh – đen – bạc, biển kiểm soát 97B1 – 981.xx, có trị giá 13.100.000 đồng (Mười ba triệu, một trăm nghìn đồng) là tài sản thuộc sở hữu của của anh Nguyễn Tiến Ch và chị Đỗ Huyền D. Sau đó mang chiếc xe đến thành phố Th, tỉnh Th1 để cầm cố cho anh Nguyễn Văn Th được số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) rồi tiêu xài cá nhân hết.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do vậy, việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, vì vậy cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo không có tiền sự. Có 02 tiền án (Tại bản án hình sự sơ thẩm số 13/2021/HSST ngày 16/11/2021 của bị TAND huyện P, tỉnh B xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”ản án số 49/2021/HSST ngày 21/12/2021 của TAND huyện B2, tỉnh B xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù tại bản án số 13/2021/HSST ngày 16/11/2021 của TAND huyện P, tỉnh B, buộc Đàm Văn Ph phải chấp hành hình phạt chung là 21 tháng tù, chưa được xóa án tích); nhân thân: Ngày 15/3/2019, bị TAND thị xã Ph (nay là thành phố Phổ Yên), tỉnh Th1 ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 20 tháng. Ngày 23/02/2021, bị Công an xã Ngh, huyện P, tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
* Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung "Phạt tiền” đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản gì thêm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền đã bỏ ra khi nhận cầm cố tài sản bị cáo trộm cắp trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
* Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe môtô nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA, màu sơn xanh – đen – bạc, biển kiểm soát 97B1 – 981.xx. Ngày 08/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Kạn đã tạm giữ được chiếc xe trên từ anh Nguyễn Văn Th. Ngày 11/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B1 đã trả lại chiếc xe cho anh Ch, chị D là đúng quy định, anh Ch và chị Dịu không có ý kiến, đề nghị gì.
* Đối với anh Nguyễn Văn Th là người đã nhận cầm cố tài sản bị cáo trộm cắp của bị hại, qua điều tra xác định anh Th không biết là tài sản do bị cáo trộm cắp rồi mang đi cầm cố nên không xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự.
* Đối với số tiền Ph cầm cố chiếc xe môtô trộm cắp mà có, Ph đã tiêu xài cá nhân hết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
* Về án phí: Bị cáo sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn tiền án phí hình sự theo quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố bị cáo Đàm Văn Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
* Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đàm Văn Ph 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 09/6/2023.
* Về án phí: Áp dụng Điều 12, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễm tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đàm Văn Ph.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh ; - VKSND thành phố; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố; - Chi cục THADS thành phố; - Sở tư pháp; - Bị cáo - Bị hại; - Người có QLVNLQ; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Dƣơng |