- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Cường - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân C phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2023/HS-ST Ngày 20-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Tố
Ông Võ Minh Đúng
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Tuyền - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Hồ Nhật Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân C, sinh ngày 02 tháng 6 năm 1979, (tên gọi khác: Nguyễn Thanh S); nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha: Nguyễn Tấn T (sinh năm 1957); mẹ: Đặng Thị C1 (sinh năm 1959); em: Nguyễn Hùng Đ (sinh năm 1983), Nguyễn Thị Kim T1 (sinh năm 1985); vợ: Trần Thị Lệ T2 (sinh năm 1987, đã ly hôn); con: Nguyễn Thị Minh H (sinh năm 2012).
Tiền án: Ngày 27/9/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 30/12/2017, chưa được xóa án tích; ngày 28/4/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tuyên phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 16/03/2022, chưa được xóa án tích.
Nhân thân: Ngày 18/5/2001, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP . tuyên phạt 07 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”. Ngày 01/02/2005, Nguyễn Xuân C được đặc xá tha tù trước thời hạn, đã xóa án tích.
Tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/4/2023 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1970
Địa chỉ: Khu phố B, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định (có đơn xét xử vắng mặt)
+ Ông Trần Văn T3, sinh năm 1979
Địa chỉ: Thôn T, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định (có đơn xét xử vắng mặt)
+ Ông Lê Văn L, sinh năm 1966
Địa chỉ: Thôn A, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định (có đơn xét xử vắng mặt)
+ Ông Ngô Văn Í, sinh năm 1970
Địa chỉ: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định (vắng mặt)
+ Ông Lê B, sinh năm 1982
Địa chỉ: Khu phố L, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định (có đơn xét xử vắng mặt)
+ Ông Lê Văn T4, sinh năm 1971
Địa chỉ: Khu phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định (có đơn xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Trần Thị Lệ T2, sinh năm 1987
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam (có đơn xét xử vắng mặt)
+ Ông Đỗ Minh H1, sinh năm 1980
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam (có đơn xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng:
+ Ông Trương L1, sinh năm 1973
Địa chỉ: Khu phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định (có đơn xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 25/3/2023, Nguyễn Xuân C điều khiển xe mô tô 76C1
- 557.08, mang theo 02 cờ lê, 01 kìm kim loại, 01 biển số xe 92F7 - 3414 từ nhà ở thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi đến địa bàn thị xã H, tỉnh Bình Định để trộm cắp tài sản. Khi đến khu vực đèo B thuộc xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi, C dừng xe, tháo biển số 76C1 - 557.08 cất giấu trong cốp xe và gắn biển số 92F7 - 3414 vào xe mô tô. Sau đó, C tiếp tục điều khiển xe mô tô đi vào địa phận thị xã H để trộm cắp tài sản.
Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 26/3/2023, C đến trước ngôi nhà đang xây của ông Huỳnh Thanh D (sinh năm 1985, trú ở khu phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định) do ông Lê Văn T4 (sinh năm 1971, trú ở khu phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định) làm chủ thầu. C dừng xe cạnh máy trộn bê tông rồi mở cốp yên xe lấy cờ lê, kìm kim loại tháo trộm mô tơ điện hiệu Hồng Ký, màu xanh rêu, công suất 3KW gắn trên máy trộn bê tông bỏ lên ba ga xe. Sau đó, C điều khiển xe chở tài sản trộm được đến cất giấu tại bụi cỏ ven đường đất thuộc khu phố H, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định. C tiếp tục điều khiển xe mô tô quay lại nhà ông D, dùng cờ lê và kìm kim loại tháo trộm mô tơ điện hiệu Hồng Ký, màu xanh rêu, công suất 3KW gắn trên máy kéo tời bỏ lên ba ga xe. C điều khiển xe chở tài sản trộm được đến cất giấu tại bụi cỏ nói trên.
Trên đường đi cất giấu tài sản trộm cắp, C phát hiện ngôi nhà đang xây của ông Nguyễn Hoàng P1 (sinh năm 1996, trú ở ở khu phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định) do ông Lê B (sinh năm 1982, trú ở khu phố L, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định) làm chủ thầu. Vì vậy, C tiếp tục quay lại nhà ông P1 dùng cờ lê, kìm kim loại tháo trộm mô tơ điện hiệu TECO, công suất 1.5 KW, màu xanh rêu gắn trên máy trộn bê tông. C tiếp tục đi vào bên trong phòng khách nhà ông P1, dùng cờ lê, kìm kim loại tháo trộm mô tơ điện hiệu TECO, công suất 1.5 KW, màu xanh rêu gắn trên máy kèo tời. C điều khiển xe mô tô chở 02 mô tơ trộm được đến điểm cất giấu trước đó. Sau đó, C điều khiển xe mô tô chở 04 mô tơ trộm cắp được đến khu vực đèo B rồi dừng xe. C lấy biển số 76C1-557.08 gắn vào xe mô tô, biển số 92F7-3414 Cường dấu vào bụi cây gần đó. C tiếp tục điều khiển xe về đến cách nhà khoảng 02 km thì cất giấu 04 mô tơ trộm cắp được vào bụi cây ven đường. Khoảng 04 ngày sau, C bán 04 mô tơ này cho một người đàn ông mua phế liệu (không rõ nhân thân, lý lịch) với giá 1.400.000 đồng. Số tiền này, C tiêu xài cá nhân hết.
Cũng với phương thức thủ đoạn như trên, vào khoảng 23 giờ ngày 06/4/2023, C điều khiển xe 76C1-557.08, mang theo 02 cờ lê, 01 kìm kim loại, 01 sợi dây thun cao su, nhiều bịch nilon đen đến địa bàn thị xã H để trộm cắp tài sản. Khi đến khu vực đèo B, C lấy biển số 92F7-3414 cất giấu trước đó gắn vào xe, biển số 76C1-557.08 Cường giấu trong cốp xe. Đến khoảng 02h00 ngày 07/04/2023, C đến trước ngôi nhà đang xây của bà Trương Thị T5 (sinh năm 1938, trú ở khu phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định) do ông Lê Văn L (sinh năm 1966 trú ở thôn A, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định) làm chủ thầu. C dừng xe, sử dụng cờ lê và kìm kim loại lấy mô tơ điện hiệu Tiến Đạt, màu trắng bạc, công suất 3KW gắn trên máy trộn bê tông. Sau đó, C bỏ mô tơ điện trộm được vào bịch nilong màu đen để ở trước ba ga xe mô tô. C điều khiển xe đến khu vực tập kết rác thải trên vỉa hè đường 3 tháng 2, thuộc khu phố D, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định rồi cất giấu mô tơ trộm cắp được.
C tiếp tục điều khiển xe theo đường Nguyễn Chí T6 về hướng Đông thì phát hiện công trình Nhà thi đấu đa năng phường T ở khu phố G, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định, do ông Trần Văn T3 (sinh năm 1979 trú ở thôn T, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định) làm chủ thầu. C dừng xe, dùng cờ lê, kìm kim loại tháo mở trộm mô tơ điện (không rõ nhãn hiệu), màu xanh nhớt, công suất 3 KW gắn trên máy trộn bê tông. Sau đó, C bỏ mô tơ trộm được vào bịch nilong màu đen rồi điều khiển xe mô tô cất giấu tài sản trộm cắp được tại khu vực tập kết rác thải trên.
C tiếp tục điều khiển xe mô tô trên đường Q mới về hướng Bắc thì phát hiện máy trộn bê tông của ông Ngô Văn Í (sinh năm 1970, trú ở T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định) đang để ở bãi đất trống thuộc khu phố H, phường T, H, tỉnh Bình Định. C dừng xe, dùng cờ lê, kìm tháo mở trộm mô tơ điện hiệu Hồng Ký, màu xanh rêu, công suất 3 KW gắn trên máy trộn bê tông. C bỏ mô tơ điện trộm được vào bịch nilong màu đen để ở ba ga xe. Sau đó, C điều khiển xe chở mô tơ trộm cắp được đến khu vực cất giấu 02 mô tơ cất giấu trước đó. C lấy 02 mô tơ này để ở yên sau xe, cột dây cao su lại rồi điều khiển xe tẩu thoát. Khi đến khu vực đèo B Cường gắn biển số 76C1-557.08 vào xe, cất giấu biển số 92F7-3414 vào bụi cây ven đường. C tiếp tục điều khiển xe về đến cách nhà khoảng 02 km thì cất giấu 03 mô tơ trộm cắp được vào bụi cây ven đường. Khoảng 03 ngày sau, C bán 03 mô tơ này cho một người đàn ông mua phế liệu (không rõ nhân thân, lý lịch) với giá 1.000.000 đồng. Số tiền này, C tiêu xài cá nhân hết.
Đến khoảng 23 giờ ngày 17/04/2023, Nguyễn Xuân C tiếp tục điều khiển xe mô tô 76C1-557.08, mang theo 02 cờ lê, kìm kim loại, 07 bịch nilong màu đen đến địa bàn thị xã H để trộm cắp tài sản. Khi đến khu vực đèo B, C gắn biển số 92F7-3414 được cất giấu trước đó vào xe, cất giấu biển số 76C1-557.08 vào cốp xe. Đến khoảng 01h00 ngày 18/04/2023, C đến trước ngôi nhà đang xây của ông Trần Văn K (sinh năm 1980, trú ở khu phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định) do ông Nguyễn Văn P (sinh năm 1970, ở khu phố B, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định) làm chủ thầu. C phát hiện không có ai trông coi nên dừng xe đi bộ vào bên trong tầng hầm lấy trộm 01 ấm siêu tốc inox 1,8L hiệu HAPPY TIME, 01 máy cân bằng tia laser hiệu ANEX, 01 máy cắt gỗ cầm tay hiệu MAKTEC, màu đỏ mang ra vị trí để xe mô tô. C dùng cờ lê và kìm kim loại tháo trộm 01 mô tơ điện hiệu Bảo Long, màu xanh, công suất 3KW gắn trên máy trộn bê tông mang ra ngoài vị trí dựng xe mô tô. C bỏ toàn bộ tài sản trộm cắp được vào 02 bịch ni lông màu đen rồi điều khiển xe mô tô đến đoạn đường đất, khu vực đồng, gần ruộng lúa của ông Trương L1 (sinh năm 1976) thuộc khu phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định cất giấu. Sau đó, C tiếp tục điều khiển xe mô tô đến nhà ông K, dùng cờ lê và kìm kim loại tháo trộm mô tơ điện hiệu JET, màu xám, công suất 3KW gắn trên máy kéo tời, bỏ vào bịch nilon đen rồi điều khiển xe mô tô đến vị trí trước đó để cất giấu chung với tài sản đã trộm cắp được.
Sau khi cất giấu xong, C điều khiển xe mô tô đi theo QL1A, hướng N - B để kiểm tra có lực lượng chức năng đi tuần tra hay không. Khi đi đến khu vực đèo B, thuộc địa phận thôn C, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định thì bị lực lượng tuần tra Công an thị xã H tiến hành kiểm tra phát hiện sự việc phạm tội.
Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 18/4/2023, ông Trương Lương đ thăm ruộng lúa thì phát hiện 03 bịch nilon chứa các tài sản do Nguyễn Xuân C trộm cắp mang về nhà. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, ông L1 mang số tài sản trên giao nộp cho Cơ quan chức năng để xử lý vụ việc.
Kết luận định giá tài sản số 27/HĐĐGTS ngày 19/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã H kết luận:
“Giá trị của các tài sản nêu trên, vào thời điểm xảy ra vụ án ngày 18/4/2023, có tổng giá trị là 3.200.000 đồng (ba triệu hai trăm nghìn đồng), cụ thể như sau:
- 01 (một) mô tơ điện hiệu Bảo Long, công suất 3KW, màu xanh, sử dụng điện một pha dùng cho máy trộn bê tông; có giá trị 1.000.000 đồng.
- 01 (một) mô tơ điện hiệu JET, công suất 3KW, màu xám, sử dụng điện một pha dùng cho máy tời; có giá trị 1.100.000 đồng.
- 01 (một) máy cắt gỗ cầm tay hiệu MAKTEC, màu đỏ; có giá trị 500.000 đồng.
- 01 (một) máy cân bằng tia lazer, hiệu ANEX màu xanh; có giá trị: 500.000 đồng.
- 01 (một) ấm siêu tốc inox 1,8L hiệu HAPPY TIME; có giá trị: 100.000 đồng.”.
Kết luận định giá tài sản số 56/HĐĐGTS ngày 31/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã H kết luận:
“Tổng giá trị của các tài sản nêu trên, vào thời điểm xảy ra vụ án ngày 07/4/2023, có giá trị: 2.900.000 đồng (Hai triệu, chín trăm nghìn đồng) và vào thời điểm xảy ra vụ án ngày 26/3/2023, có giá trị: 6.400.000 đồng (Sáu triệu, bốn trăm nghìn đồng), cụ thể như sau:
- 01 (một) mô tơ điện hiệu Hồng Ký, công suất 3KW, màu xanh rêu, sử dụng điện một pha dùng cho máy trộn bê tông. Theo bị hại trình bày mua mô tơ trên cách đây khoảng 10 năm với giá 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng); có giá trị 500.000 đồng.
- 01 (một) mô tơ điện công suất 3KW, màu xanh nhớt, sử dụng điện một pha dùng cho máy trộn bê tông. Theo bị hại trình bày mua mô tơ trên vào năm 2020 với giá 3.200.000 đồng, không nhớ rõ hiệu gì; có giá trị 1.400.000 đồng.
- 01 (một) mô tơ điện hiệu Tiến Đạt, công suất 3KW, màu trắng bạc, sử dụng điện một pha dùng cho máy trộn bê tông. Theo bị hại trình bày mua mô tơ trên vào năm 2021 với giá 3.000.000 đồng, không nhớ rõ hiệu gì; có giá trị 1.000.000 đồng.
- 02 (hai) mô tơ điện hiệu Teco, công suất 1,5KW, màu xanh rêu, sử dụng điện một pha dùng cho máy trộn bê tông và máy kéo tời. Theo bị hại trình bày mua 02 (hai) mô tơ trên vào khoảng tháng 6/2021 với giá 2.900.000 đồng/01 mô tơ; có tổng giá trị 2.800.000 đồng (mỗi cái có giá trị 1.400.000 đồng).
- 01 (một) mô tơ điện hiệu Hồng Ký, công suất 3KW, màu xanh rêu, sử dụng điện một pha dùng cho máy trộn bê tông. Theo bị hại trình bày mua mô tơ trên vào khoảng tháng 02/2023 với giá 2.800.000 đồng; có giá trị 2.000.000 đồng.
- 01 (một) mô tơ điện hiệu Hồng Ký, công suất 3KW, màu xanh rêu, sử dụng điện một pha dùng cho máy kéo tời. Theo bị hại trình bày mua mô tơ trên vào khoảng đầu năm 2022 với giá 2.700.000 đồng; có giá trị 1.600.000 đồng.”.
Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã tạm giữ:
+ 01 mô tơ điện hiệu Bảo Long, công suất 3KW, màu xanh, sử dụng điện một pha dùng cho máy trộn bê tông; 01 mô tơ điện hiệu JET, công suất 3KW, màu xám, sử dụng điện một pha dùng cho máy tời; 01 máy cắt gỗ cầm tay hiệu MAKTEC, màu đỏ; 01 máy cân bằng tia laser, hiệu ANEX, màu xanh; 01 ấm siêu tốc inox 1,8L, hiệu HAPPY TIME (đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Văn P).
+ 01 kìm bằng kim loại có tay cầm bọc nhựa màu đỏ - đen, dài 20cm; 01 cờ lê bằng kim loại màu trắng, dài 18,5cm, gồm một đầu mở hình chữ U kích thước 17mm, một đầu mở hình tròn rỗng kích thước 13mm, giữa quấn băng keo màu đen; 01 cờ lê bằng kim loại màu trắng, dài 16,3cm, gồm một đầu mở hình chữ U kích thước 13mm, một đầu mở hình tròn rỗng kích thước 17mm, giữa quấn băng keo màu đen; 01 xe mô tô Honda, hiệu Wave RSX màu xanh đen, gắn biển số 92F7-3414, số khung RLHJA3819KY002284, số máy JA38E0438910; 01 mũ bảo hiểm hiệu Honda, màu trắng bạc, có gắn kính chắn gió phía trước bằng nhựa; 01 áo khoác vải kaki, màu xám, hiệu Fashion; 01 biển số xe mô tô kích thước (19,5x14,5) cm, chữ số 76C1-557.08 được dập nổi màu đen, nền màu trắng; 03 bịch ni lông màu đen đã qua sử dụng, không còn nguyên vẹn; 04 bịch ni lông màu đen có quai xách, kích thước (40 x 70) cm, chưa qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Xuân C đã bồi thường cho bị hại Lê Văn T4 số tiền 3.600.000 đồng, bị hại Lê B số tiền 2.800.000 đồng, bị hại Lê Văn L số tiền 1.000.000 đồng, bị hại Trần Văn T3 số tiền 1.400.000 đồng, bị hại Ngô Văn Í số tiền 500.000 đồng. Bị hại Nguyễn Văn P đã nhận lại đúng và đủ tài sản của mình.
Bản cáo trạng số: 65/CT-VKS ngày 10 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân C về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Xuân C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Xuân C, về tội danh: đề nghị tuyên Nguyễn Xuân C phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Về hình phạt: áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân C từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Xử lý vật chứng:
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu và tiêu hủy: 01 kìm bằng kim loại có tay cầm bọc nhựa màu đỏ - đen, dài 20cm; 01 cờ lê bằng kim loại màu trắng, dài 18,5cm, gồm một đầu mở hình chữ U kích thước 17mm, một đầu mở hình tròn rỗng kích thước 13mm, giữa quấn băng keo màu đen; 01 cờ lê bằng kim loại màu trắng, dài 16,3cm, gồm một đầu mở hình chữ U kích thước 13mm, một đầu mở hình tròn rỗng kích thước 17mm, giữa quấn băng keo màu đen; 01 mũ bảo hiểm hiệu Honda, màu trắng bạc, có gắn kính chắn gió phía trước bằng nhựa; 01 áo khoác vải kaki, màu xám, hiệu Fashion; 03 bịch ni lông màu đen đã qua sử dụng, không còn nguyên vẹn; 04 bịch ni lông màu đen có quai xách, kích thước (40 x 70) cm, 01 biển số xe 92F7-3414.
- Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp chị Trần Thị Lệ T2 01 xe mô tô Honda, hiệu Wave RSX màu xanh đen, số khung RLHJA3819KY002284, số máy JA38E0438910 và 01 biển số xe mô tô kích thước (19,5x14,5) cm, chữ số 76C1-557.08 được dập nổi màu đen, nền màu trắng; (theo Biên bản giải quyết việc thi hành án dân sự ngày 12/6/2020 và Biên bản về việc trả lại tài sản ngày 12/6/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi).
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Xuân C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo Nguyễn Xuân C đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác đem bán lấy tiền, trong khoảng thời gian từ ngày 26/3/2023 đến ngày 18/4/2023, bị cáo C đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cụ thể, bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của bị hại Lê Văn T4 với tổng giá trị tài sản là 3.600.000 đồng, bị hại Lê B là 2.800.000 đồng, bị hại Lê Văn L là 1.000.000 đồng, bị hại Trần Văn T3 là 1.400.000 đồng, bị hịa Ngô Văn Í là 500.000 đồng, bị hại Nguyễn Văn P là 3.200.000 đồng.
Bị cáo có đủ sức khỏe, năng lực để nhận thức và điều khiển hành vi của mình, bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án đưa ra xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” và chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân để tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân tốt. Do tham lam, xem thường pháp luật, muốn có tiền tiêu xài nhưng lại lười lao động, bị cáo tiếp tục trộm cắp tài sản. Bị cáo đã “tái phạm” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội do cố ý, do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ. [3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, trị an ở địa phương nên phải xử phạt nghiêm, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Ngày 18/5/2001, bị cáo bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP . tuyên phạt 07 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”. Ngày 01/02/2005, bị cáo được đặc xá tha tù trước thời hạn, đã xóa án tích. Bị cáo có nhân thân xấu.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhiều lần, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 12.500.000 đồng, trong có 02 lần bị cáo chiếm đoạt tài sản có giá trị trên 2.000.000 đồng nên bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo và gia đình đã bồi thường cho bị hại nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
Về bồi thường thiệt hại: Các bên đã thỏa thuận giải quyết xong, bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là 01 kìm bằng kim loại có tay cầm bọc nhựa màu đỏ - đen, dài 20cm; 01 cờ lê bằng kim loại màu trắng, dài 18,5cm, gồm một đầu mở hình chữ U kích thước 17mm, một đầu mở hình tròn rỗng kích thước 13mm, giữa quấn băng keo màu đen; 01 cờ lê bằng kim loại màu trắng, dài 16,3cm, gồm một đầu mở hình chữ U kích thước 13mm, một đầu mở hình tròn rỗng kích thước 17mm, giữa quấn băng keo màu đen; 01 mũ bảo hiểm hiệu Honda, màu trắng bạc, có gắn kính chắn gió phía trước bằng nhựa; 01 áo khoác vải kaki, màu xám, hiệu Fashion; 03 bịch ni lông màu đen đã qua sử dụng, không còn nguyên vẹn; 04 bịch ni lông màu đen có quai xách, kích thước (40 x 70) cm, chưa qua sử dụng, là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy.
- Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp chị Trần Thị Lệ T2 01 xe mô tô Honda, hiệu Wave RSX màu xanh đen, số khung RLHJA3819KY002284, số máy JA38E0438910 và 01 biển số xe mô tô kích thước (19,5x14,5) cm, chữ số 76C1-557.08 được dập nổi màu đen, nền màu trắng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 8 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn).
Tại phiên tòa đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn về tội danh, điều luật và mức hình phạt với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Xuân C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về các vấn đề khác:
- Ông Đỗ Minh H1 (sinh năm 1980, trú ở xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam) là chủ biển số xe 92F7-3414, ông làm rớt biển số xe và bị cáo C nhặt được sử dụng. Do đó, Đỗ Minh H1 không đồng phạm với Nguyễn Xuân C về tội trộm cắp tài sản.
- Hai người đàn ông mua mô tơ điện của bị cáo C, không rõ nhân thân, lý lịch. C cũng không nói rõ tài sản trên do trộm cắp mà có nên không có cơ sở để xử lý.
- Ông Trương L1 không biết các tài sản trong 03 bịch nilon đen là do Nguyễn Xuân C trộm cắp, đồng thời Trương L1 đã tự nguyện giao nộp số tài sản trên cho Cơ quan chức năng nên không có cơ sở để xử lý hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 47, 48, Điều 38 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân C phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân C 03 (ba) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 18/4/2023).
3. Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận giải quyết xong, không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 kìm bằng kim loại có tay cầm bọc nhựa màu đỏ - đen, dài 20cm; 01 cờ lê bằng kim loại màu trắng, dài 18,5cm, gồm một đầu mở hình chữ U kích thước 17mm, một đầu mở hình tròn rỗng kích thước 13mm, giữa quấn băng keo màu đen; 01 cờ lê bằng kim loại màu trắng, dài 16,3cm, gồm một đầu mở hình chữ U kích thước 13mm, một đầu mở hình tròn rỗng kích thước 17mm, giữa quấn băng keo màu đen; 01 mũ bảo hiểm hiệu Honda, màu trắng bạc, có gắn kính chắn gió phía trước bằng nhựa; 01 áo khoác vải kaki, màu xám, hiệu Fashion; 03 bịch ni lông màu đen đã qua sử dụng, không còn nguyên vẹn; 04 bịch ni lông màu đen có quai xách, kích thước (40 x 70) cm, chưa qua sử dụng, là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy.
- Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp chị Trần Thị Lệ T2 01 xe mô tô Honda, hiệu Wave RSX màu xanh đen, gắn biển số 76C1-557.08, số khung RLHJA3819KY002284, số máy JA38E0438910 và 01 biển số xe mô tô kích thước (19,5x14,5) cm, chữ số 76C1-557.08 được dập nổi màu đen, nền màu trắng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 8 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn). 5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Xuân C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
7. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bình Định;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Bình Định;
- VKSND thị xã Hoài Nhơn;
- Chi cục THA dân sự thị xã Hoài Nhơn
- CQ CSĐT Công an thị xã Hoài Nhơn;
- CQ THAHS Công an thị xã Hoài Nhơn;
- Bị cáo;
- Bị hại;
Trần Thị Phường
- Lưu hồ sơ vụ án.
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Nhật Nguyện Nguyễn Hữu T7
Trần Thị P2
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND tỉnh Bình Định; - VKSND thị xã Hoài Nhơn; - Chi cục THA dân sự thị xã Hoài Nhơn - CQ CSĐT Công an thị xã Hoài Nhơn; - CQ THAHS Công an thị xã Hoài Nhơn; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phường |