vanban.org

Bản án 87/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 27/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Quốc C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC BÌNH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2023/HS-ST
Ngày: 27-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Thanh Trúc Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1-Ông Bá Đình Tâm

2-Bà Phạm Thị Bích Lệ

- Thư ký phiên tòa: Ông Đa Văn Thắng-Thư ký Tòa án nhân dân huyện B

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Bà

Đặng Thị Thu Vân - Kiểm sát viên

(Tham gia tại điểm cầu Trung tâm)

Ngày 27 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình

Thuận xét xử sơ thẩm trự tuyến (Tại điểm cầu Trung tâm-Trụ sở TAND huyện Bắc Bình và điểm cầu thành phần-Nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Bình) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo: Ngô Quốc C, sinh năm 1989 tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi cư trú: Thôn BT, xã PRT, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Kinh;

giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Ngô Quốc T, sinh năm 1962 và bà Trần Thị L, sinh năm 1962;

Vợ, con: Bị cáo sống chung với Huỳnh Xuân P như vợ chồng nhưng không

đăng ký kết hôn, con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2017.

Về nhân thân:

Ngày 25/9/2017 bị Chủ tịch UBND xã PRT ra Quyết, ra định áp dụng biện

pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 03 tháng, về hành vi sử dụng 201 trái phép chất ma túy, đến ngày 25/12/2017 đã chấp hành xong.

Ngày 09/3/2021 bị TAND huyện Bắc Bình kết án 18 tháng tù giam về tội

“Trộm cắp tài sản”, xảy ra vào ngày 11/7/2020 theo Bản án số 16/2021/HS-ST, thời hạn tù tính từ ngày 08/10/2020.

Tiền sự, tiền án: Không

Bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bình

Thuận từ, bị cáo có mặt

(Tham gia tại điểm cầu thành phần).

- Bị hại: Anh Nguyễn Hữu K, sinh năm 1999

Địa chỉ: 2, thị trấn CL, huyện B, tỉnh Bình Thuận

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ngô Quốc T, sinh năm 1962 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn BT, xã PRT, huyện B, tỉnh Bình Thuận

2. Trần L, sinh năm 2000 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã HT, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Phương N, sinh năm 1975 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố 1, thị trấn CL, huyện B, tỉnh Bình Thuận

(Tham gia tại điểm cầu Trung tâm)

- Những người tham gia tố tụng khác:

1. Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình: Ông Bá Văn Nhân

2. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình: Ông Lư Ngọc Quí

3. Chiến sỹ Công an huyện Bắc Bình: Các ông Đặng Tấn Tài, Khê Thành

Phong, Trần Phan Long Lai

(Tham gia tại điểm cầu thành phần)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 21/8/2020, Ngô Quốc C đang ở nhà thì M

đến nhà C ngồi chơi. Ngồi nói chuyện một lúc thì C nói với M là “Khổ quá, không có tiền mua sữa cho con, đi trộm với em không để kiếm tiền mua sữa”, nghe C nói vậy thì M đồng ý. C tự ý lấy 01 áo thun màu xanh nhạt, 01 quần kaki màu đen, nón bảo hiểm màu xanh nước biển, hai bên hông có logo vision màu trắng, xe mô tô 86F5-7344, là trang phục và xe mô tô của ông Ngô Quốc T là cha ruột của C. Sau khi mặc trang phục xong C mang đôi dép mủ màu trắng hiệu adidas của C, rồi điều khiển xe mô tô 86F5-7344 của ông Ngô Quốc T chở M mặc áo vải màu xanh rêu, đội nón lưỡi trai màu đen, quần lửng màu tím đậm đi từ nhà hướng lên thị trấn CL với mục đích kiếm tài sản của người khác để sơ hở thì lấy trộm về bán kiếm tiền tiêu xài. Khi đến thị trấn CL thì C chở M chạy ngược chiều bên phần đường bên trái hướng Phan Rí - Phan Thiết trên Quốc lộ 1A. Lúc C chạy xe ngang qua nhà ông Nguyễn Phương N, C nhìn thấy 01 xe mô tô biển số 86S2-4055, nhãn hiệu sirius màu đen bạc của anh Nguyễn Hữu K đang để trước cửa nhà ông N, không có người trông coi nên C nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô và quay đầu xe lại chạy qua nhà ông N cách 03 căn nhà rồi dừng lại. C nói M ngồi trên xe 86F5-7344 đứng đợi còn C lén lút đi bộ vào trước cửa nhà ông N, dùng cây đoản (mang theo từ nhà) bẻ khoá xe mô tô 86S2-4055, dẫn xe ra chạy về hướng PRT và M thấy C đã lấy được xe chạy đi nên chạy xe mô tô 86F5-7344 theo sau. Về đến nơi C để xe mô tô 86S2-4055 vừa trộm được trước nhà, thấy Hồ Công Tr, tên thường gọi là U đi ngang qua nên C gọi Tr vào nhà chơi, C nói Tr “Bán dùm chiếc xe tạo vừa trộm được để mua sữa cho con” với giá 3.100.000 đồng, Tr nghe vậy thì đồng ý. Sau đó C đưa xe mô tô 86S2-4055 cho Tr đem đi bán, khoảng hơn 01 giờ sau thì Tr quay về nhà C và đưa cho C 3.100.000 đồng, rồi C gọi M sang nhà, C chia tiền cho M 1.300.00 đồng, C 1.300.000 đồng, chia cho Tr tiền công đi bán xe là 500.000 đồng (trong số tiền đó C có nói với M là đã trừ 100.000 đồng tiền xăng đưa cho Tr), chia tiền xong ai về nhà nấy. Sau khi được chia số tiền là 1.300.000 đồng C sử dụng vào việc mua sữa cho con, mua đồ sinh hoạt trong gia đình, C đưa cho vợ Huỳnh Thị Xuân P 300.000đồng và cho cha ruột 200.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 07/2021/KL-HĐĐGTS ngày 15/01/2021

của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận: Giá trị tài sản 01 chiếc xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu sơn đen bạc, số khung C630AY309811, số máy 5C63309869, mua vào năm 2010 bị trộm cắp vào ngày 21/8/2020 là 6.580.000 đồng.

Quá trình điều tra, Ngô Quốc C khai nhận có rủ M đi kiếm tài sản của người

khác để sơ hở thì trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài, M đồng ý. Tuy nhiên, M vẫn không thừa nhận tham gia trộm cắp tài sản cùng với C, hiện tại tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ chưa đủ căn cứ để khởi tố bị can đối với M về tội trộm cắp tài sản.

Ngô Quốc C còn khai là sau khi C và M trộm được chiếc xe mô tô 86S2-

4055 thì C có nhờ Hồ Công Tr đi bán xe C vừa mới trộm được. Tuy nhiên, Tr vẫn khai không biết xe C nhờ bán là do phạm tội mà có, hiện tại tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ chưa đủ căn cứ để khởi tố bị can đối với Hồ Công Tr về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Đối với Phạm Thiên TH khai Hồ Công Tr gọi cho TH hỏi TH “có mua xe

Sirius giá rẻ vừa làm về không” (ngầm hiểu là xe vừa trộm về), khi nghe nói vậy thì TH mới biết là xe vừa mới trộm về (TH nghĩ bản thân Tr biết xe này là xe trộm cắp mà có vì ngay từ ban đầu Tr nói cho TH biết là xe này vừa mới làm về, bán giá rẻ (ngầm hiểu là xe trộm cắp), nhưng Hồ Công Tr không thừa nhận. Hiện nay, TH đã bỏ đi khỏi địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Bình đã ra thông báo truy tìm đối tượng để phục vụ cho quá trình điều tra nhưng vẫn chưa có kết quả. Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ chưa đủ căn cứ để khởi tố bị can đối với Phạm Thiên TH về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Đối với Trần Quốc TH1 khai: TH gọi điện cho TH1 chỉ nói “có chiếc xe

Sirius mua hay không” còn mâu thuẫn với lời khai của TH chưa được làm rõ.

Qua trình điều tra nhận thấy lời khai của Ngô Quốc C, M, Hồ Công Tr, Phạm

Thiên TH và Trần Quốc TH1 còn nhiều mâu thuẫn với nhau, Cơ quan điều tra chưa thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng M hành vi phạm tội của M, Tr, TH và TH1. Để kết thúc điều tra đề nghị truy tố Ngô Quốc C đúng thời hạn quy định, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định tách vụ án tiếp tục điều tra làm rõ hành vi của các đối tượng: M, Hồ Công Tr, Phạm Thiên TH và Trần Quốc TH1 để nhằm tránh bỏ lọt tội phạm và xử lý theo quy định pháp luật.

Về tang vật, vật chứng của vụ án gồm:

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật

chứng, trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, gồm:

- Trả lại 01 chiếc xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu

sơn đen bạc, số khung C630AY309811, số máy 5C63309869 cho bị hại Nguyễn Hữu K.

- Trả lại cho ông Ngô Quốc T 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số

86F5-7344; 01 áo thun màu xanh nhạt; 01 (một) quần kaki màu đen; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh nước biển, hai bên hông có lôgô vison màu trắng không có liên quan vụ án.

Đối với 01 đôi dép mủ màu trắng hiệu adidas của Ngô Quốc C quá trình

điều tra xác định đây là đồ vật C sử dụng vào việc phạm tội, Cơ quan điều tra đã chuyển vào kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện B để bảo quản, xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với cây đoản C dùng phá khóa rồi ném trên đường tẩu thoát, Cơ điều

tra tiến hành đến hiện trường, tổ chức truy tìm nhưng kết quả không tìm thấy cây đoản nêu trên, nên không xem xét giải quyết.

Về phần bồi thường dân sự:

Bị hại Nguyễn Hữu K yêu cầu bồi thường số tiền 2.000.000 đồng anh K đã

bỏ ra để sữa chữa một số bộ phận xe bị hư hỏng, bị cáo Ngô Quốc C chưa bồi thường.

Anh Trần L nhận thấy việc mình mua xe không tìm hiểu kỹ nên không yêu

cầu bồi thường số tiền 4.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 80/CT-VKS.HBB ngày 26/8/2023, Viện kiểm sát nhân

dân huyện B đã truy tố Ngô Quốc C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa,

*Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm

truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều

51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt: Bị cáo Ngô Quốc C từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại tự nguyện rút yêu cầu bồi

thường dân sự, nên không xem xét giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa

đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép mủ màu trắng hiệu adidas.

* Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của

Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo nhận thấy việc làm của mình là trái pháp luật và xin được giảm nhẹ hình phạt.

* Bị hại tự nguyện rút yêu cầu bồi thường dân sự và đề nghị giảm nhẹ hình

phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Bình,

Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng được Tòa án

triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, xét thấy tại giai đoạn điều tra cơ quan điều tra đã làm rõ các chứng cứ của vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ

hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ, đủ cơ sở để kết luận: Ngô Quốc C lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 01 chiếc xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu sơn đen bạc, số khung C630AY309811, số máy 5C63309869, trị giá 6.580.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Ngô Quốc C đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của

bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.

. Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có sức khỏe, có đủ khả năng để lao động tạo ra của cải, vật chất phục vụ cho bản thân và gia đình. Nhưng bị cáo không chịu lao động mà muốn hưởng thụ, muốn có tiền tiêu xài cá nhân, nên lợi dụng sự sơ hở của bị hại để chiếm đoạt tài sản, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với l i cố ý, không những đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương đang có chiều hướng gia tăng.

. Từ những nhận định trên, HĐXX nhận thấy cần thiết phải xử lý nghiêm,

cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để bị cáo cải tạo thành công dân tốt, có thức tuân theo pháp luật.

. Về tang, vật chứng của vụ án: 01 đôi dép mủ màu trắng hiệu adidas. Đây

là công cụ dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại tự nguyện rút yêu cầu bồi

thường dân sự, nên HĐXX không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại

khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUY T ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội;

1. Tuyên bố: Bị cáo Ngô Quốc C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt: Bị cáo Ngô Quốc C 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép mủ màu trắng hiệu adidas.

(Theo Biên bản giao, nh n đồ v t, tài liệu, v t chứng ngày 05/9/2023 giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân s huyện B).

4. Buộc bị cáo Ngô Quốc C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/8/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Cỡ chữ