- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Công K phạm tội Cố ý gây thương tích”. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN ¯¯¯¯¯¯¯¯¯ | CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2023/HS-PT Ngày: 13-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Khánh
Các Thẩm phán:Ông Trần Văn Quán
Ông Nguyễn Phước Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Nhật Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 67/2023/TLPT-HS ngày 19 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Huỳnh Công K do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2023/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
- Bị cáo có kháng cáo: Huỳnh Công K, sinh năm 1977, tại tỉnh Long An; Nơi thường trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn P (đã chết) và bà Trần Thị C; Bản thân có vợ tên Nguyễn Thị Trúc L, có 01 người con, sinh năm 2004; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo hoặc không có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị không triệu tập:
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Nguyễn Thị L1, Nguyễn Công K1.
- Người làm chứng: Trần Thị C, Huỳnh Thị Út M, Phan Văn H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 24/3/2022, tại nhà thuộc ấp P, xã P, huyện C, giữa vợ chồng Huỳnh Công K và Nguyễn Thị Trúc L xảy ra mâu thuẩn cự cãi nhau do K không đồng ý cho bà L đi tập thể dục vì sợ lây bệnh covid 19. Trong lúc cãi vã qua lại với nhau, K đứng đối diện dùng tay phải đánh mạnh 01 cái, trúng vào vùng sau gáy bên trái của bà L. Sau khi bị đánh bà L ngồi xuống khóc, rồi ngã xuống nền gạch bất tỉnh. K cùng với vợ chồng anh Phan Văn H và Huỳnh Thị Út M đưa bà L đến bệnh viện Đ để cấp cứu, nhưng bà L đã tử vong trên đường đến bệnh viện.
Bản kết luận giám định pháp y về hóa pháp số 195/199/210/22/ĐC ngày 15/4/2022 của P1 tại Thành phố Hồ Chí Minh thuộc V, Kết luận: Trong phủ tạng và máu vụ Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1982 do cơ quan CSĐT Công an tỉnh L gửi tới giám định ngày 07/4/2022 không tìm thấy các chất độc.
Bản kết luận giám định pháp y về mô bệnh học số 04.133/MBH-22 ngày 19/4/2022 của Trung tâm pháp y sở y tế thành phố H, kết luận: Tụ máu trong mô mỡ dưới da và quanh cơ; Tụ máu quanh động mạch đốt sống; Chảy máu dưới nhện; Chảy máu quanh hành tủy; Tổn thương cơ tim cấp dạng tăng co; Phù phổi cấp.
Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 330/KL-KTHS ngày 25/4/2022 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh L, kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1982 là do xuất huyết màng não (chảy máu dưới nhện, quanh hành tủy) do bị tác động ngoại lực vào vùng chẩm và cổ sau.
Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKSCG, ngày 13/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2023/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Công K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Huỳnh Công K 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền và thời hạn kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng.
Ngày 12 tháng 4 năm 2023, bị cáo Huỳnh Công K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Công K thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và xác định bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Về hình thức và thủ tục kháng cáo của bị cáo Huỳnh Công K trong thời gian luật định, yêu cầu kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.
Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm thống nhất với lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. nên đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Huỳnh Công K đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng pháp luật, không oan.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông nội là Huỳnh Văn T và bà nội là Võ Thị B được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì; bị cáo đang nuôi dưỡng mẹ ruột là Trần Thị C bị bệnh là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 05 năm tù là tương xứng với hành vi bị cáo thực hiện.
Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo, xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo kháng cáo có cung cấp tình tiết hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình được UBND xã P xác nhận ngày 12/7/2023 nên đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2023/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An về hình phạt đối với bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo 04 năm tù.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo để lo cho gia đình.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Bị cáo Huỳnh Công K kháng cáo trong thời hạn pháp luật quy định, yêu cầu kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật nên Tòa án nhân tỉnh Long An thụ lý xét xử theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm thống nhất với lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 24/3/2022, tại nhà thuộc ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An, giữa vợ chồng Huỳnh Công K và Nguyễn Thị Trúc L xảy ra mâu thuẫn cãi nhau do K không đồng ý cho L đi tập thể dục vì sợ lây bệnh Covid-19. Trong lúc cãi vã qua lại với nhau, K đứng đối diện dùng tay phải đánh mạnh 01 cái, trúng vào vùng sau gáy bên trái của L làm L bị xuất huyết màng não (chảy máu dưới nhện, quanh hành tủy) và tử vong trên đường đến bệnh viện.
[3] Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự, do bị cáo sử dụng tay đánh vào vùng đầu là vùng trọng yếu trên cơ thể con người, mặc dù ý thức chủ quan của bị cáo không có ý định tước đoạt mạng sống của bị hại nhưng hậu quả của hành vi mà bị cáo thực hiện làm chết người nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung “làm chết người” là đúng quy định pháp luật, không oan cho bị cáo.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống, mặc dù có nhiều phương thức giải quyết nhưng bị cáo lại dùng tay đánh vào đầu là vùng trọng yếu trên cơ thể con người, hậu quả làm bị hại chết, hành vi của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của con người được pháp luật bảo hộ mà còn gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, do đó cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông nội là Huỳnh Văn T và bà nội là Võ Thị B được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì; bị cáo đang nuôi dưỡng mẹ ruột là Trần Thị C bị bệnh là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo 05 năm tù là đúng người, đúng tội, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
[5] Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo, nhận thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo có bổ sung giấy xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi mẹ già được Ủy ban nhân dân xã P xác nhận ngày 12/7/2023, bị cáo hiện nuôi con đang học Đại học là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên.
Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo, nhận thấy: Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, hậu quả làm chết người, hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên không có căn cứ áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự để cho bị cáo hưởng án treo.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2023/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Huỳnh Công K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận một phần.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Huỳnh Công K; Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2023/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An về hình phạt đối với bị cáo.
2. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Công K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Công K 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo thi hành án.
3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Huỳnh Công K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Long An; - TAND huyện; - VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - CQĐT Công an huyện; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Sở Tư pháp tỉnh Long An; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Khánh |