- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Nguyễn Thị L đối với bị đơn - ông Trần Văn G về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 87/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27 – 7 - 2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Thu Thủy
2. Bà Lê Thị Nguyệt
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Công - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án thụ lý số 289/2023/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 88/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1991; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: D54N, khu phố Bình Đức 1, phường Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, có mặt.
Bị đơn: Ông Trần Văn G, sinh năm 1983; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Tân Long, xã Tân Bình, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang; chỗ ở: 105 đường Đỗ Thành Nhân, khu phố Nguyễn Trãi, phường Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn – bà Nguyễn Thị L trình bày:
Bà L và ông G tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã Tân Bình, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang vào ngày 06/02/2012, theo giấy chứng nhận kết hôn số 21/TP/2012, quyển số 01. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc được một ngày nào, nguyên nhân do ông G đi làm không đưa tiền cho bà L để lo chi phí cho gia đình như tiền sinh hoạt, tiền học của con, kinh tế trong gia đình phụ thuộc vào bà L càng ngày bà L cảm thấy mệt mỏi rồi dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã rồi đánh nhau, không còn quan tâm đến nhau. Hiện nay vợ chồng đã ly thân, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau, bà L nhất quyết xin ly hôn.
Về con chung: Trong quá trình chung sống có 01 người con là Trần Ngọc Tiên, sinh ngày 03/7/2012. Tại đơn khởi kiện bà L yêu cầu giao cháu Tiên cho ông G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Tiên lý do để ông G đồng ý ly hôn nhưng thực tế hiện nay cháu Tiên vẫn đang do bà L nuôi dưỡng. Trong quá trình tố tụng bà L thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Tiên, không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Ông Trần Văn G đã được Tòa án thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 208; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng ông G không đến Tòa án làm việc và vắng mặt tại phiên tòa.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Riêng bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà L khởi kiện ông G yêu cầu ly hôn, ông G hiện đang trú tại phường Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân thành phố Thuận An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Trần Văn G theo đúng quy định tại các tại các Điều 177; Điều 208; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng ông G không đến Tòa án làm việc và vắng mặt tại phiên tòa. Việc vắng mặt của ông G trong quá trình tố tụng được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Quá trình tố tụng, bà L xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng do phát sinh từ kinh tế, ông G không có trách nhiệm lo cho gia đình, đi làm không đưa tiền cho bà L để lo chi phí sinh hoạt gia đình mà mà một mình bà L phải đảm đương gánh vác dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, hiện nay vợ chồng đã ly thân trong một thời gian dài không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nữa.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa người vợ và người chồng chỉ tồn tại bền vững dựa trên tình cảm thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và khi có những bất đồng trong quan hệ vợ chồng thì người vợ và người chồng phải cùng nhau tích cực hàn gắn, xóa bỏ những mâu thuẫn, duy trì tình cảm tốt đẹp của vợ chồng. Nhưng quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông G không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Do tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Tòa án nhiều lần triệu tập ông G tham gia phiên hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, nhưng ông Lộc vắng mặt thể hiện thái độ không muốn hòa giải. Mặt khác, bà L xác định bà không còn tình cảm với ông G nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà L về việc ly hôn với ông G.
Về con chung: Bà L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Trần Ngọc Tiên, sinh ngày 03/7/2012. Xét thấy hiện nay bà L đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tiên và con có nguyện vọng muốn sống chung với mẹ. Hơn nữa là con gái cần được sự chăm sóc của người mẹ. Vì vậy giao cháu Tiên cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng là hợp tình, hợp lý.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L tự nguyện không yêu cầu ông G phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 51; Điều 55, Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Nguyễn Thị L đối với bị đơn - ông Trần Văn G về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Trần Văn G.
- Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc Tiên, sinh ngày 03/7/2012 cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị L không yêu cầu ông Trần Văn G phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm con, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004221 ngày 28 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này kể ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - UBND xã Tân Bình, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang; - Chánh án (để báo cáo); - Các đương sự; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc |