vanban.org

Bản án 87/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phan Trần Nhã H được ly hôn với chị Thái Thị Bích P.

2/. Về con chung: Giao cháu Phan Thái An Nhiên, sinh ngày 08/8/2021 cho chị Thái Thị Bích P trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc, (hiện tại cháu Nhiên đang sống chung với chị P nên được giữ nguyên). Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị P không yêu cầu. Anh Phan Trần Nhã H có quyền, nghĩa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hưng - Phượng"
  • Tòa quyết gì? / Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phan Trần Nhã H được ly hôn với chị Thái Thị Bích P.
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ L
TỈNH L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 21/9/2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH L

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Công Bằng

- Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Lê Trường Hận.

2- Bà Sơn Thị Kim Lương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Tiểu My - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 318/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2023/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phan Trần Nhã H, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số A16/130, Khóm 1, Phường 8, thành phố L, tỉnh L.

- Bị đơn: Chị Thái Thị Bích P, sinh năm 2004. Nơi cư trú: Nhà không số, Khóm 6, Phường 2, Thành phố L, tỉnh L.

(Anh H, chị P vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Phan Trần Nhã H trình bày: Anh H và chị P tiến tới hôn nhân vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 8, thành phố L, tỉnh L. Trong quá trình chung sống vợ chồng lúc đầu hạnh phúc nH sau đó thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do thường xuyên bất đồng quan điểm sống, không có được tiếng nói chung trong gia đình, vợ chồng không hàn gắn được nên đã sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay. Nay anh xác định mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không thể kéo dài nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Thái Thị Bích P.

Về con chung: Quá trình chung sống anh và chị P có 01 con chung là cháu Phan Thái An Nhiên, sinh ngày 08/8/2021, hiện tại cháu đang sống cùng chị P, khi ly hôn anh đồng ý giao cháu Nhiên cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung đều không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị P nH chị P đều vắng mặt và không có bất cứ ý kiến phản hồi gì đối với yêu cầu xin ly hôn của anh H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2, nH vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung: Anh H và chị P chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, đây là hôn nhân là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng đến nay đã xảy ra mâu thuẫn không hàn gắn được, cũng đã sống ly thân một thời gian nH không hàn gắn được mâu thuẫn, nên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H.

Về con chung: Hiện nay cháu Phan Thái An Nhiên đang sống với chị P, cũng nhằm tránh xáo trộn tâm lý của cháu, nên chấp nhận giao cháu An Nhiên cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng. Do các đương sự không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không đặt ra để giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung không có nên không đặt ra giải quyết.

- Về án phí hôn nhân gia đình: Anh Phan Trần Nhã H phải nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Phan Trần Nhã H yêu cầu ly hôn với chị Thái Thị Bích P có nơi cư trú tại nhà không số, Khóm 6, Phường 2, thành phố L, tỉnh L nên Tòa án nhân dân thành phố L thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Phan Trần Nhã H có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 16/8/2023 nộp tại Tòa án, xét thấy đơn xin xét xử vắng mặt của anh H là hoàn toàn tự nguyện và không trái với pháp luật, nên được chấp nhận. Quá trình Tòa án nhân dân thành phố L thụ lý vụ án đã triệu tập, thông báo cho chị Thái Thị Bích P tiến hành phiên họp công khai chứng cứ, hoà giải và triệu tập xét xử nH chị Thái Thị Bích P đều vắng mặt, kể cả ngày hôm nay (ngày 21/9/2023); cho thấy chị Thái Thị Bích P cố tình trốn tránh. Căn cứ khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải giữa các đương sự; áp dụng Điều 227; Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung khởi kiện: Nguyên đơn anh Phan Trần Nhã H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chị Thái Thị Bích P.

Xét về quan hệ hôn nhân: anh Phan Trần Nhã H và chị Thái Thị Bích P tự nguyện tiến tới hôn nhân từ năm 2020, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường 8, thành phố L, tỉnh L cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 22, ngày 05/3/2022 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Phan Trần Nhã H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hôn nhân được xây dựng trên mối quan hệ tình cảm vợ chồng và các thành viên trong gia đình. Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, cùng nhau chia sẻ, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Tuy nhiên, theo anh H xác định quá trình chung sống vợ chồng thời gian gần đây thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, chị P không chăm lo cho gia đình và con cái, từ đó dẫn đến bất đồng quan điểm sống, không có được tiếng nói chung trong gia đình, vợ chồng không hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, anh Phan Trần Nhã H đã bỏ về nhà cha mẹ ruột tại số A16/130, Khóm 1, Phường 8, thành phố L, tỉnh L sống từ đầu năm 2023 cho đến nay, nH chị P không quan tâm, không hàn gắn. Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, triệu tập chị P đến Tòa án, nH chị Thái Thị Bích P đều không có ý kiến cũng như không đến Tòa án, cho thấy chị Thái Thị Bích P không quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân giữa chị và anh H. Ngoài ra, tại các biên bản xác minh, đại diện chính quyền địa phương nơi vợ chồng anh H và chị P sinh sống xác nhận vợ chồng anh H và chị P có xảy ra mâu thuẫn hôn nhân hay không thì chính quyền không nắm được do không ai trình báo với địa phương nH giữa anh H và chị P có sống ly thân là xảy ra thực tế, anh H đã bỏ về nhà cha mẹ ruột tại số A16/130, Khóm 1, Phường 8, thành phố L, tỉnh L sống từ đầu năm 2023 cho đến nay nH cả hai đều không có biện pháp hàn gắn, anh H về nhà cha mẹ ruột và cả hai không sống chung. Hội đồng xét xử thấy rằng, chỉ vì bất đồng quan điểm trong đời sống vợ chồng mà cả hai không có biện pháp hàn gắn, làm cho đời sống vợ chồng ngày càng xa cách hơn, đời sống chung không còn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Phan Trần Nhã H đối với chị Thái Thị Bích P như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ.

Về con chung: Theo lời trình bày của anh H phù hợp với giấy khai sinh và biên bản xác minh của chính quyền địa phương cho thấy giữa anh H và chị P chung sống với nhau có 01 người con chung là cháu Phan Thái An Nhiên, sinh ngày 08/8/2021; Hội đồng xét xử xét thấy cháu Nhiên hiện đang sống cùng với chị P, để không làm xáo trộn đời sống của cháu và cháu là nữ cần sự chăm sóc của mẹ, nên cần giao cháu Phan Thái An Nhiên cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp quy định pháp luật. Anh Phan Trần Nhã H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H không cấp dưỡng nuôi con do chị P không yêu cầu, Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình giải quyết chị P không có ý kiến hay yêu cầu gì về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Tuy nhiên, chị P có quyền yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

Về tài sản chung: Anh H xác định anh và chị P không có tài sản chung, không yêu cầu, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Anh H xác định anh và chị P không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án phù hợp với đánh giá, nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Về án phí: Anh Phan Trần Nhã H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 4 Điều 207, Điều 227, 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1./ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phan Trần Nhã H được ly hôn với chị Thái Thị Bích P.

2/. Về con chung: Giao cháu Phan Thái An Nhiên, sinh ngày 08/8/2021 cho chị Thái Thị Bích P trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc, (hiện tại cháu Nhiên đang sống chung với chị P nên được giữ nguyên). Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị P không yêu cầu. Anh Phan Trần Nhã H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

3/. Về tài sản chung: Anh Phan Trần Nhã H xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

4/. Về nợ chung: Anh Phan Trần Nhã H xác định vợ chồng không có nợ tài sản gì của ai và không ai nợ tài sản gì của vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

5/. Về án phí: Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình anh Phan Trần Nhã H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), anh Phan Trần Nhã H đã dự nộp số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008870 ngày 05/7/2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L được chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án sơ thẩm xử công khai, ông Phan Trần Nhã H và chị Thái Thị Bích P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ