- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phùng Thị N khởi kiện ly hôn, nuôi con sau khi ly hôn đối với anh Nguyễn Quang N"
- Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phùng Thị N và Anh Nguyễn Quang N.
- Căn cứ chính? Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2023/HNGĐ-ST Ngày 14 tháng 9 năm 2023 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tiến Dũng;
Các hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo;
Bà Nguyễn Thị Phẩm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 129/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Phùng Thị N, sinh năm 1995.
Hộ khẩu thường trú: Khu X, xã T P, huyện T T, tỉnh Phú Thọ.
Nơi ở hiện tại: Khu L T, thành phố Đ V, Đài Loan.
Người đại diện theo ủy quyền (Nộp hồ sơ, nhận các văn bản tố tụng, nộp tiền tạm ứng án phí): Anh Nguyễn Chí N, sinh năm 2001.
Địa chỉ: Số 32 Đ Q, phường T H, quận C G, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Quang N, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Khu X, xã T P, huyện T T, tỉnh Phú Thọ.
(Chị N, anh N, Anh N đều vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 13/6/2023 và tại bản tự khai ngày 13/6/2023 nguyên đơn chị Phùng Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và Anh Nguyễn Quang N đăng ký kết hôn vào tháng 5 năm 2012 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và đã được UBND xã T P, huyện T T, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận kết hôn.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến khoảng tháng 9 năm 2019 chị qua Đài Loan làm ăn và sinh sống. Hai vợ chồng thường xuyên phải xa nhau. Hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ cuối năm 2019. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề trong cuộc sống cũng như trong cách nuôi dạy con cái, khoảng cách địa lý khiến vợ chồng không quan tâm đến nhau. Vợ chồng hay cãi vã khiến cuộc sống chung hết sức nặng nề. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng khiến cuộc sống chung của vợ chồng không thể kéo dài. Hai vợ chồng đã nhiều lần ngồi lại nói chuyện mong hóa giải mâu thuẫn nhưng không thành.
Nay, sau khi cân nhắc, suy nghĩ kỹ lưỡng và cảm thấy cuộc sống hôn nhân đã quá ngột ngạt, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên chị N đề nghị giải quyết cho được ly hôn theo quy định pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Hải N, sinh ngày 07/4/2012. Sau ly hôn chị đề nghị giao cháu Nguyễn Hải N cho Anh Nguyễn Quang N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị được quyền thăm nom, chăm sóc cháu mà không bị ai ngăn cản, cản trở. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh, chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị N đề nghị vắng mặt trong quá trình giải quyết ly hôn.
- Tại bản tại khai ngày 07/8/2023, quá trình giải quyết tại Tòa án bị đơn Anh Nguyễn Quang N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Về quá trình kết hôn và quá trình mâu thuẫn, Anh N nhất trí với ý kiến của chị N. Anh đã cố gắng khắc phục nhưng hai vợ chồng không thể hàn gắn được. Nay chị N đề nghị ly hôn anh nhất trí ly hôn.
Về con chung: Anh N xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Hải N, sinh ngày 07/4/2012. Sau ly hôn anh đề nghị Tòa án cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng.
Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Cháu Nguyễn Hải N có nguyện vọng được ở với bố khi bố mẹ ly hôn.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu về những nội dung sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điều 55, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c Khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phùng Thị N và Anh Nguyễn Quang N.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hải N, sinh ngày 07/4/2012 cho Anh Nguyễn Quang N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị N không phải cấp dưỡng nuôi con do Anh N không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không đề nghị giải quyết.
Về án phí: Chị N và Anh N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Chị Phùng Thị N có đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị ly hôn Anh Nguyễn Quang N, đơn khởi kiện của chị N có chứng thực của Văn phòng kinh tế văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc. Anh N có hộ khẩu thường trú tại Khu X, xã T P, huyện T T, tỉnh Phú Thọ. Do vậy, căn cứ vào khoản 3 điều 35, điểm a khoản 1 điều 37; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Trong quá trình giải quyết vụ án chị N không có mặt ở Việt Nam nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Trong quá trình giải quyết vụ án chị N và Anh N đều có đề nghị xét xử vắng mặt do vậy Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị N và Anh N là phù hợp.
[2] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị N và Anh N đăng ký kết hôn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã T P, huyện T T, tỉnh Phú Thọ ngày 08/5/2012. Vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, chị N và Anh N chung sống hòa thuận, đến cuối năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề trong cuộc sống cũng như trong cách nuôi dạy con cái, khoảng cách địa lý khiến vợ chồng không quan tâm đến nhau. Vợ chồng hay cãi vã khiến cuộc sống chung hết sức nặng nề. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng khiến cuộc sống chung của vợ chồng không thể kéo dài. Chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị xin ly hôn Anh N, Anh N cũng có quan điểm nhất trí ly hôn. Do vậy, cần công nhận thuận tình ly hôn giữa Chị N và Anh N theo quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Chị N và Anh N có một con chung là cháu Nguyễn Hải N, sinh ngày 07/4/2012. Xét thấy: Cháu N đang do Anh N chăm sóc và nuôi dưỡng, cháu N có nguyện vọng ở với Anh N. Chị N và Anh N cũng thỏa thuận giao cháu N cho Anh N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Do vậy, cần giao cháu N cho Anh N trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc là phù hợp, chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng Anh N do Anh N tự nguyện không yêu cầu là phù hợp.
[3] Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không đặt ra xem xét.
[4] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị N và Anh N thuận tình ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
[5] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điều 55, điều 81, 82, 83, 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 điều 35, điểm a khoản 1 điều 37; điểm a khoản 1 điều 39; khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, 2 điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phùng Thị N và Anh Nguyễn Quang N.
[2] Giao cho Anh N được trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hải N, sinh ngày 07/4/2012 kể từ khi ly hôn đến khi con chung thành niên. Chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng Anh N do Anh N tự nguyện không yêu cầu.
Chị Phùng Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, Anh Nguyễn Quang N cùng các thành viên trong gia đình không ai được cản trở chị N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
[3] Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp của vợ chồng: Không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phùng Thị N phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị Phùng Thị N đã nộp (Do anh Phạm Tiến H nộp thay) số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: 0000574 ngày 27/7/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Trả lại cho chị Phùng Thị N số tiền 225.000 đồng (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Anh Nguyễn Quang N phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Đương sự có mặt tại Việt Nam có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án để đề nghị Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Đương sự cư trú ở nước ngoài có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (Một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh; - Cục THADS tỉnh Phú Thọ; - Các đương sự; - UBND xã T P, huyện T T; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Tiến Dũng |