- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nga Hiếu"
- Tòa quyết gì? Về việc nuôi con chung chưa thành niên: Căn cứ các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; giao cho chị Nguyễn Thị Thúy N trực tiếp nuôi con Đỗ Nam T, sinh ngày 10- 08- 2017.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2023/HNGĐ-ST Ngày: 08- 9- 2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Hùng Hạnh;
Bà Hoàng Thị Lan.
- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Lê Huân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 146/2023/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm 1990; nơi đăng ký thường trú: Xóm B, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định; nơi ở: S Vinhomes O, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội; “Có mặt”.
- Bị đơn: Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1988; nơi cư trú: Xóm B, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định; “Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Văn H tự nguyện tìm hiểu, kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã H cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 07- 03- 2017. Sau đó, vợ chồng sống hòa thuận đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng về quan điểm sống và tính cách. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh Đỗ Văn H, không còn cơ hội hàn gắn hạnh phúc nên chị xin ly hôn anh Đỗ Văn H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Đỗ Nam T, sinh ngày 10- 08-2017. Từ khi vợ chồng ly thân đến tháng 5- 2022 con chung ở cùng ông bà nội tại: Xóm B, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định, do ông bà chăm sóc; đến tháng 6- 2022 chị đón con chung lên Hà Nội học tập và ở cùng chị. Khi ly hôn, chị nhận trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị làm phiên dịch tại Hà Nội đủ thu nhập để nuôi con, công việc của chị ở nhà thường xuyên và hai mẹ con chị đang ở nhà thuê gần bố mẹ chị nên ông bà ngoại có thể hỗ trợ chị chăm sóc con.
Về tài sản: Chị không đề nghị giải quyết.
Ý kiến của anh Đỗ Văn H: Anh thừa nhận về quan hệ hôn nhân, về con chung như chị N trình bày. Anh đồng ý ly hôn. Khi ly hôn, anh đề nghị được nuôi con chung. Hiện nay anh đang làm công nhân tại Hà Nội thu nhập mỗi tháng khoảng 15.000.000 đồng, nếu được nuôi con chung anh sẽ để con chung ở nhà nhờ bố mẹ anh chăm sóc như trước đây, hàng tháng anh về thăm con 3, 4 lần. Bố mẹ anh còn khỏe và có đủ điều kiện về nhà ở và kinh tế hỗ trợ anh nuôi con.
Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ tại xã H, huyện G: Việc kết hôn, chung sống vợ chồng, nuôi con chung như chị Nguyễn Thị Thúy N, anh Đỗ Văn h trình bày.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình, công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Đỗ Văn H. Căn cứ vào các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao con chung là Đỗ Nam T, sinh ngày 10- 08- 2017 cho chị Nguyễn Thị Thúy N trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Đỗ Văn H kết hôn hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng của chị N và anh H không có hạnh phúc, vợ chồng đã không chung sống cùng nhau trong thời gian dài. Nay chị N xin ly hôn, anh H nhất trí. Vì vậy, đủ cơ sở công nhận thuận tình ly hôn chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Đỗ Văn H, phù hợp với quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về việc nuôi con: Xác định vợ chồng chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Đỗ Văn H có 01 con chung là Đỗ Nam T, sinh ngày 10- 08- 2017. Hiện nay, con chung do chị Nguyễn Thị Thúy N trực tiếp nuôi dưỡng, phát triển ổn định. Chị N có đủ điều kiện nuôi con, anh H có đề xuất nguyện vọng được nuôi con chung nhưng công việc lại không thể thường xuyên ở bên cạnh con và phải nhờ ông bà nội chăm sóc. Qua xem xét kết quả xác minh tại địa phương, để đảm bảo sự phát triển ổn định của con chung, Tòa án có đủ cơ sở giao cho chị Nguyễn Thị Thúy N trực tiếp nuôi con chung; anh Đỗ Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về án phí: Chấp nhận nguyện vọng của chị Nguyễn Thị Thúy N nhận nộp toàn bộ án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình; công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Đỗ Văn H.
2. Về việc nuôi con chung chưa thành niên: Căn cứ các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; giao cho chị Nguyễn Thị Thúy N trực tiếp nuôi con Đỗ Nam T, sinh ngày 10- 08- 2017. Anh Đỗ Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 kèm theo Danh mục án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc: Chị Nguyễn Thị Thúy N phải nộp 150.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000574 ngày 15- 8- 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy. Chị Nguyễn Thị Thúy N được hoàn trả 150.000 đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự: 02 bản; - VKSND huyện Giao Thủy: 02 bản; - Chi cục THADS huyện Giao Thủy: 01 bản; - UBND xã Hồng Thuận: 01 bản; - Lưu hồ sơ: 02 bản. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Duyên |