- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân giữa chị Phượng và anh Khang"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Mỹ P về việc yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng với anh Lưu Chí K.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 87/2023/HNGĐ-ST Ngày: 20 -7-2023 V/v “tranh chấp về việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa
Các Hội thẩm nhân dân:1/ Trần Thanh Vũ
2/ Ông Lương Hùng Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền – Thư ký tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Trong ngày 20 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2023/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2023 về việc “tranh chấp về việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2023/QĐXX-ST ngày 20 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Mỹ P, sinh năm 2002 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Anh Lưu Chí K, sinh năm 2002 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Huỳnh Thị Mỹ P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Thông qua sự quen biết nhau giữa chị Huỳnh Thị Mỹ P và anh Lưu Chí K. Sau thời gian tìm hiểu hai bên phát sinh tình cảm và tự nguyện tiến tới hôn nhân vào đầu năm 2020, vợ chồng có tổ chức lễ cưới nhưng đến nay cũng không đăng ký kết hôn. Sau cưới nhau, vợ chồng chung sống tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Vợ chồng chung sống thời gian ngắn đến đầu năm 2021thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau do mâu thuẫn về chuyện tiền bạc. Kể từ tháng 3/2023 chị P và anh K không còn chung sống với nhau nữa. Nay chị Huỳnh Thị Mỹ P không còn tình cảm gì với anh Lưu Chí K nên đề nghị Tòa án xem xét không công nhận quan hệ là vợ chồng với anh K.
Về nuôi con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung: Huỳnh Thị Mỹ K1, sinh năm 2021, hiện con chung đang do chị P chăm sóc, nuôi dưỡng nên chị P yêu cầu Tòa án xem xét được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Chị P không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản chung: Tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án xem xét.
Về nghĩa vụ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết
Bị đơn anh Lưu Chí K được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên toà, Tòa án nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Chị Huỳnh Thị Mỹ P khởi kiện yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng với anh Lưu Chí K. Do đương sự không có đăng ký kết hôn nên khi phát sinh tranh chấp Tòa án xem xét giải quyết theo quan hệ pháp luật: Tranh chấp về việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, theo quy định tại khoản 8 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lưu Chí K có nơi cư trú trên địa bàn huyện C, thành phố Cần Thơ, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng măt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn. [2] Xét về quan hệ hôn nhân: Theo trình bày của chị Huỳnh Thị Mỹ P thì giữa chị P và anh K chung sống như vợ chồng từ năm 2020 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn. Xét thấy, việc đương sự chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Trên cơ sở đó chị P yêu cầu Tòa án xem xét không công nhận quan hệ vợ chồng với anh K là đúng theo quy định tại Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình nên Tòa án chấp nhận.
Về nuôi con chung: Xét quá trình chung sống giữa chị Huỳnh Thị Mỹ P và anh Lưu Chí K có 01 con chung: Huỳnh Thị Mỹ K1, sinh năm 2021. Hiện con chung đang được chị P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nên chị P có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K1 đến tuổi trưởng thành. Xét tại thời điểm xét xử con chung của chị P và anh K là cháu Huỳnh Thị Mỹ K1 dưới 36 tháng tuổi và đang được chị P nuôi dưỡng nên theo quy định của pháp luật, quyền nuôi con thuộc về chị P do vậy Tòa án chấp nhận yêu cầu chị P về việc tiếp tục nuôi dưỡng cháu K1 đến tuổi trưởng thành. Do chị P không yêu cầu Tòa án xem xét buộc anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không xem xét.
Về chia tài sản chung: Đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét chia tài sản chung, nên Tòa án không xem xét.
Về nghĩa vụ chung: Đương sự khai không có, nên Tòa án không xem xét giải quyết. [6] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Chị Huỳnh Thị Mỹ P phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm với số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 5 Điều 147, Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 81,Điều82, Điều 83 và Điều 84của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Mỹ P về việc yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng với anh Lưu Chí K.
2. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Huỳnh Thị Mỹ P và anh Lưu Chí K là vợ chồng.
3. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Huỳnh Thị Mỹ K1, sinh năm 2021 cho chị Huỳnh Thị Mỹ P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Anh Lưu Chí K không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho anh Lưu Chí K theo quy định của pháp luật, không ai được quyền ngăn cản. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
4. Về chia tài sản chung và nghĩa vụ chung: Tòa án không xem xét.
5. Về án phí: Chị Huỳnh Thị Mỹ P phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ tạm ứng án phí số tiên 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009904 ngày 09/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Chị P đã thực hiện xong.
5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được niêm yết hay tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TP Cần Thơ; - VKSND huyện Cờ Đỏ; - UBND xã Thới Xuân; - Chi cục THADS huyện Cờ Đỏ; - Phòng Tư pháp huyện Cờ Đỏ; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Đăng Khoa |