vanban.org

Bản án 87/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: chị Trương Thị Kiều H được ly hôn với anh Ngô Văn M . Về con chung: Tiếp tục giao cháu Ngô Thị Kiều T , sinh ngày 09/8/2014 và cháu Ngô Minh L , sinh ngày 10/6/2018 cho anh M được trực tiếp nuôi dưỡng.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trương Thị Kiều H ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Ngô Văn M"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN MINH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25/8/2023
“V/v ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Văn Bảnh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thanh Tuyền

Ông Nguyễn Trọng Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Mãi - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 144/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023 về "ly hôn, nuôi con chung".

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Kiều H , sinh năm 1991

Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: Anh Ngô Văn M , sinh năm 1983

Địa chỉ: ấp C, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trương Thị Kiều H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ngô Văn M được người thân mai mối, sau đó tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, chung sống từ năm 2013, đến năm 2014 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh chị không hòa hợp nhau, suy nghĩ khác nhau và thường hay cự cãi. Anh M hay uống rượu bia, mỗi lần uống vào là chửi, đánh chị, có khi còn hăm dọa. Vì thương con nên chị nhẫn nhịn, khuyên nhủ nhưng không có kết quả. Thời gian gần đây anh M hăm dọa chị ngày càng nhiều, chị không thể tiếp tục sống chung nên về nhà cha mẹ ruột ở. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục sống chung nên chị xin ly hôn với anh M để mỗi người có cuộc sống riêng.

Về con chung: Chị và anh M có 03 người con chung là Ngô Thị Kiều T, sinh ngày 09/8/2014; Ngô Minh L, sinh ngày 10/6/2018 đang sống với anh M ; Ngô Minh L1, sinh ngày 28/8/2021 đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu L1 ; anh M tiếp tục nuôi dưỡng cháu T , cháu L , không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cùng nhau.

Về nợ chung: Chị và anh M không có nợ chung ai, không phát sinh tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Chị cam kết ly hôn không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người khác.

Về tài sản chung: Chị xác định chị và anh M không phát sinh tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

* Bị đơn anh Ngô Văn M trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị H về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Quá trình chung sống không có mâu thuẫn gì lớn, tuy nhiên từ năm 2022 do điều kiện kinh tế gia đình gặp khó khăn, thu nhập của anh không nhiều, còn chị H thì yêu cầu nhiều hơn nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Khoảng tháng 5/2023 trong lúc cự cãi anh có đánh chị H nên chị H bỏ về nhà cha mẹ ruột ở cho đến nay. Nay chị H yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý để mỗi người có cuộc sống riêng.

Về con chung: Anh đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng cháu T và L , còn chị H tiếp tục nuôi dưỡng cháu L1 , không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cùng nhau.

Về tài sản chung và nợ chung: Không phát sinh tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Do không có điều kiện đến tham dự phiên tòa nên anh xin vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh có ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Về hướng giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho chị H được ly hôn với anh M ; chị H được tiếp tục nuôi dưỡng cháu L1 , anh M tiếp tục nuôi dưỡng cháu T , cháu L . Về cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Ngô Văn M có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh M .

[2] Về quan hệ hôn nhân, chị H và anh M chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2014 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Nguyên nhân dẫn đến ly hôn, chị H cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, không hòa hợp nhau về suy nghĩ, tính cách, thường hay cãi nhau. Anh M uống rượu bia về là chửi, đánh chị, có khi còn hăm dọa nên chị không thể tiếp tục sống chung. Còn anh M cho rằng do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên vợ chồng xảy ra cự cãi, mâu thuẫn, lúc nóng giận có lần đánh chị H . Kết quả xác minh, Ban lãnh đạo ấp C xác định vợ chồng anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cự cãi dẫn đến yêu cầu ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình chung sống với nhau chị H và anh M có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, nhưng không khắc phục được.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh M không đảm bảo theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tình nghĩa vợ chồng, Hội đồng xét xử có căn cứ để cho rằng hôn nhân giữa anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hơn nữa, anh chị đã sống ly thân thời gian dài nhưng không khắc phục được mâu thuẫn để vợ chồng tiếp tục chung sống nên không có khả năng đoàn tụ, anh chị đều đồng ý ly hôn. Do đó, trong thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận ý kiến đề xuất của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H với anh M .

[4] Về con chung: chị H và anh M có 03 người con chung là Ngô Thị Kiều T , sinh ngày 09/8/2014 đang sống với anh M và có nguyện vọng sống với anh M ; Ngô Minh L , sinh ngày 10/6/2018 đang sống với anh M ; Ngô Minh L1, sinh ngày 28/8/2021 đang sống với chị H . Khi ly hôn, chị H và anh M thống nhất chị H được tiếp tục nuôi dưỡng cháu L1 , anh M tiếp tục nuôi dưỡng cháu T , cháu L . Xét thấy, chị H và anh M có đủ điều kiện nuôi con, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của con nên Hội đồng xét xử chấp nhận để chị H được tiếp tục nuôi dưỡng cháu L1 , anh M tiếp tục nuôi dưỡng cháu T , cháu L . Anh chị có quyền, nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở. Trường hợp anh chị vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện nuôi con thì anh chị có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về cấp dưỡng, không ai yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

[5] Về nợ chung: Anh chị xác định không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

[6] Về tài sản chung: Anh chị xác định không phát sinh tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí, nguyên đơn chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 9, Điều 19, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Trương Thị Kiều H được ly hôn với anh Ngô Văn M .

2. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Ngô Thị Kiều T , sinh ngày 09/8/2014 và cháu Ngô Minh L , sinh ngày 10/6/2018 cho anh M được trực tiếp nuôi dưỡng.

Tiếp tục giao cháu Ngô Minh L1 , sinh ngày 28/8/2021 cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh chị có quyền, nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở. Trường hợp anh chị vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện nuôi con thì anh chị có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về cấp dưỡng, không ai yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

3. Về nợ chung: Anh chị xác định không có nợ chung, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

4. Về tài sản chung: Anh chị xác định không phát sinh tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

5. Về án phí sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo lai thu số 0001313 ngày 08/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ