vanban.org

Bản án 87/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 14/04/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Quan hệ hôn nhân: Chị Mai Lương Thị T được ly hôn với anh Lê Văn H.

[2] Con chung: Giao các con chung là cháu Lê Thị Kiều T, sinh ngày 10/10/2013; cháu Lê Thị Bảo C, sinh ngày 14/3/2015 và cháu Lê Minh Khang, sinh ngày 06/10/2020 cho chị Mai Lương Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Người không trực…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân Thuy Huyen"
  • Tòa quyết gì? [1] Quan hệ hôn nhân: Chị Mai Lương Thị T được ly hôn với anh Lê Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2023/HNGĐ-ST
Ngày 14/4/2023
V/v T/c Hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Trần Quốc Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Xuân Thành

Ông Hồ Bá Võ

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 365/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Mai Lương Thị T, sinh năm 1989. Địa chỉ: Xóm 4, xã NT, huyện NL, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1985. Nơi ĐKHKTT trước khi xuất cảnh: Xóm 4, xã NT, huyện NL, tỉnh Nghệ An. Hiện đang sinh sống tại: Hungary. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai, chị Mai Lương Thị T trình bày: Chị T và anh Lê Văn H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hộn tại Ủy ban nhân dân xã NT, huyện NL, tỉnh Nghệ An ngày 28/05/2010. Sau khi kết hôn một thời gian thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Do đời sống khó khăn, tháng 3/2021 anh H đi sang Hungari làm công nhân, 2 tháng đầu có gửi tiền về, từ tháng thứ 3 cho đến nay không gửi tiền về nữa, mà còn có quan hệ nam nữ không lành mạnh ở nước ngoài. Chị T thấy không thể kéo dài cuộc hôn nhân nên làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An cho chị được ly hôn với anh Lê Văn H.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Lê Thị Kiều T, sinh ngày 10/10/2013; cháu Lê Thị Bảo C, sinh ngày 14/3/2015 và cháu Lê Minh Khang, sinh ngày 06/10/2020, hiện này các cháu đang ở với chị. Ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng. Các cháu Lê Thị Kiều T, Lê Thị Bảo C đều có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ.

Về tài sản của vợ chồng: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía anh Lê Văn H: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng; Thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu anh Lê Văn H có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án…cho anh Lê Văn H thông qua bà Lương Thị H là mẹ của anh Lê Văn H; thực hiện thủ tục niêm yết công khai các văn bản trên theo quy định của pháp luật, nhưng anh Lê Văn H vẫn vắng mặt không có lý do. Theo trình bày của bà Hoa thì anh H có điện thoại về cho gia đình nhưng không nói địa chỉ hiện tại của anh H ở đâu, anh H cũng biết việc chị T làm đơn ly hôn tại Tòa án, anh H cũng đồng ý ly hôn.

Theo kết quả trả lời xác minh tại Công văn số 24813/QLXNC-P5 ngày 15/11/2022 của Cục quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an: Anh Lê Văn H có thông tin xuất nhập cảnh nhiều lần, lần cuối xuất cảnh ngày 23/03/2021, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vu của đường sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của chị Mai Lương Thị T, cho chị T được ly hôn với anh Lê Văn H; giao con chung của vợ chồng cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; dành quyền khởi kiện về cấp dưỡng, chia tài sản cho các đương sự khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thẩm quyền giải quyết: Vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là anh Lê Văn H có địa chỉ trước khi đi nước ngoài tại xã NT, huyện NL, tỉnh Nghệ An; anh H hiện đang sinh sống Hungary. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án anh Lê Văn H vắng mặt, Tòa án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ đối với anh H thông qua người thân là mẹ anh H và niêm yếu công khai. Mẹ anh H là bà Lương Thị H cho biết anh H đang đi xuất khẩu lao động tại Hungari, nhưng anh H không có địa chỉ cụ thế ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Bà Hoa thông báo cho anh H biết việc chị T làm đơn ly hôn tại Tòa án thì anh H cũng đồng ý ly hôn. Kết quả xác minh tại Cục quản lý xuất nhập cảnh, anh Lê Văn H có thông tin xuất nhập cảnh ngày 23/3/2021, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Vụ án thuộc trường hợp không thể hòa giải được theo khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Mai Lương Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[3]. Về nội dung:

[3.1.]. Quan hệ hôn nhân: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, nhận thấy, chị Mai Lương Thị T và anh Lê Văn H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2021, khi anh H đang ở nước ngoài, nhưng không được hàn gắn, giải quyết. Đến nay anh H không quan tâm đến gia đình, không chăm lo làm ăn kinh tế, không gửi tiền về chăm sóc gia đình. Hai vợ chồng không còn cùng hướng đến xây dựng hạnh phúc. Khi biết chị T xin ly hôn tại Tòa án, anh H cũng đã đồng ý. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị Mai Lương Thị T và anh Lê Văn H không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Mai Lương Thị T. Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Mai Lương Thị T được ly hôn với anh Lê Văn H.

[3.2.] Về con chung: Chị T và anh H có 03 con chung là cháu Lê Thị Kiều T, sinh ngày 10/10/2013; cháu Lê Thị Bảo C, sinh ngày 14/3/2015 và cháu Lê Minh Khang, sinh ngày 06/10/2020, hiện các cháu đang ở với chị T. Anh H đang ở nước ngoài chưa có điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung, nên cần giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con, chị T và anh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.

[3.3] Tài sản chung, nợ: Chị Mai Lương Thị T chưa yêu cầu giải quyết và anh Lê Văn H cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

[4]. Về án phí: Chị Mai Lương Thị T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 469 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Mai Lương Thị T.

[1] Quan hệ hôn nhân: Chị Mai Lương Thị T được ly hôn với anh Lê Văn H.

[2] Con chung: Giao các con chung là cháu Lê Thị Kiều T, sinh ngày 10/10/2013; cháu Lê Thị Bảo C, sinh ngày 14/3/2015 và cháu Lê Minh Khang, sinh ngày 06/10/2020 cho chị Mai Lương Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự chưa có ý kiến nên Tòa án không xem xét. Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.

[3] Án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Mai Lương Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012369 ngày 19/12/2022.

[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau:

Chị Mai Lương Thị T vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Anh Lê Văn H đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ