vanban.org

Bản án 87/2022/ST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lý Lở M được ly hôn với anh Quang Văn Th. Về con chung: Giao con chung Quang Huy H – sinh ngày 21/7/2014 cho chị Lý Lở M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi tròn 18 tuổi, trưởng thành. Anh Quang Văn Th có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CON CUÔNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:87 /2022/ST - HNGĐ
Ngày 21/7 /2022.
“V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lữ Thị Dung.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Doãn Xuân

2. Bà Võ Thị Hồng Long

Thư ký phiên tòa: Ông Ngân Mai Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Lựu - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2022/TLST - HNGĐ ngày 25/5/2022 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:29 /2022/QĐXX - ST ngày 17 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lý Lở M - Sinh năm 1992. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Quang Văn Th - Sinh năm 1992.

Đều có địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện CC, tỉnh NA. Anh Th vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện (đơn xin ly hôn) của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Lý Lở M trình bày: Chi Lý Lở M và anh Lô Văn Thêm đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 05/8/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, anh Th không quan tâm đến cuộc sống gia đình và vợ,con. Vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm dẫn đến nhiều lần gây gỗ, cãi vã xúc phạm, đánh đập nhau nhau, mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Chị M về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và ly thân với anh Th từ năm 2021 đến nay không còn liên lạc hay quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hiện tình cảm vợ chồng không còn chị Lý Lở M đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Quang Văn Thệm.

- Về con chung: Quá trình chung sống chị Lý Lở M và anh Quang Văn Th có 01 người con chung Quang Huy H – sinh ngày 21/7/2014 hiện nay con đang ở cùng với anh Th và ông bà nội. Nếu ly hôn chị M có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng tiền nuôi con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng thỏa thuận tự chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng chị M không nợ tổ chức, cá nhân nào và cũng không ai nợ vợ chồng chị.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm anh Th vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhiều lần, nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng đúng quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:

- Về tố tụng:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 53; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn ly hôn của chị Lý Lở M. Chị M và anh Th chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật; Về con chung: Giao con chung Quang Huy H – sinh ngày 21/7/2014 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung chị M không yêu cầu nên không xem xét; Về án phí: Chị M phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, bị đơn hiện cư trú tại Thôn T, xã Y, huyện CC, tỉnh NA nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý vụ án, qua xác minh tại Ban Công an xã Y, huyện Con Cuông cho biết anh Th đăng ký hộ khẩu thường trú ở Thôn Trung Chính, xã Y, huyện Con Cuông nhưng hiện nay không có mặt ở địa phương đi đâu chính quyền, địa phương không biết, chính quyền địa phương cũng không nắm rõ thời gian anh Th trở về vì anh Th không cắt khẩu tạm vắng.Như vậy, bị đơn đã thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới. Theo quy định tại Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự thì được coi là cố tình giấu địa chỉ nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tụng chung là phù hợp với hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 nghị quyết 04/2017/NQ - HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Quang Văn Th đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Th theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Th không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét thấy chị Lý Lở M và anh Quang Văn Th có đăng ký kết hôn vào ngày 05/8/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An .Việc đăng ký kết hôn là tự nguyện, không vi phạm quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.Như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Lý Lở M và anh Quang Văn Th là hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chị M và anh Th chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Chị M về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và ly thân với anh Th từ năm 2021 cho đến nay, chị M và anh Th không còn liên lạc, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, như vậy chị M và anh Th đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng.

Tại phiên tòa anh Th vắng mặt nhưng Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng cho ông Quang Văn Thiên – Trú tại Thôn T, xã Y, huyện CC, tỉnh NA là bố đẻ của anh Th, tại biên bản lấy lời khai ông Quang Văn Thiên cho biết quá trình vợ chồng chị M mâu thuẫn gia đình cũng đã hòa giải, khuyên nhủ vun vén tình cảm hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả, hiện tại anh Th đi làm công ty địa chỉ cụ thể thì ông không biết, ông Thiên cũng đã liên lạc thông báo cho anh Th biết đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và khuyên anh Th về giải quyết ly hôn nhưng anh Th không về. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị M và anh Th không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị Lý Lở M được ly hôn với anh Quang Văn Th.

Về con chung: Vợ chồng chị Lý Lở M và anh Quang Văn Th có 01 người con chung Quang Huy H – sinh ngày 21/7/2014 hiện nay con đang ở cùng với bố mẹ anh Th. Nếu ly hôn chị M có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng tiền nuôi con. Do hiện nay anh Th không có mặt ở địa phương, việc giao con cho anh Th nuôi dưỡng là không đảm bảo điều kiện về mọi mặt của con, xét thấy nguyện vọng của chị M là chính đáng, để đảm bảo quyền lợi của con. Xét giao con chung cho chị Lý Lở M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con do chị M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Do chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Lý Lở M phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lý Lở M được ly hôn với anh Quang Văn Th.

- Về con chung: Giao con chung Quang Huy H – sinh ngày 21/7/2014 cho chị Lý Lở M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi tròn 18 tuổi, trưởng thành. Anh Quang Văn Th có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.

Chị M cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về án phí: Áp dụng khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Lý Lở M phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp 300.000 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000683 ngày 25/5/2022.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ