vanban.org

Bản án 87/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Yên Bái, tỉnh Yên Bái Tuyên án 28/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: 1 Căn cứ điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn Đ 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 09-9-2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn Đ phạm tội: Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2022/HSST
Ngày 28-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Độ

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Băng và bà Đ Thị Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2022/HSST ngày 18 tháng 11năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/HSST-QĐ ngày 09 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:

Đinh Văn Đ; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 12-12-1988 tại Lào Cai; nơi cư trú: Thôn T, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 05 /12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Đinh Quốc Th, sinh năm 194x và bà Nguyễn Thị Th1, sinh năm 195x; có vợ Vũ Hà L, sinh năm 198x (đã ly hôn), và vợ Đinh Thị L, sinh năm 199x; có 02 con; con lớn sinh năm 201x, con nhỏ sinh năm 202x; tiền sự: Không; tiền án; có 01 tiền án (chưa được xóa án tích): Bản án số 30/2017/HS-ST ngày 25-9-2017 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 16-10-2019; nhân thân: Bản án số 04/2015/HS-ST ngày 16-01-2015 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” (đã được xóa án tích); Bản án số 03/2015/HS-ST ngày 05-02-2015 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, do các bị hại không có đơn yêu cầu thi hành án về khoản bồi thường thiệt hại, đến nay đã hết thời hiệu thi hành án (đã được xóa án tích).

Tại Quyết định tổng hợp hình phạt số 01/2015/QĐ-CA ngày 11-3-2015 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tổng hợp hình phạt của Bản án số 04/2015/HS-ST ngày 16-01-2015 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai và bản án số 03/2015/HS-ST ngày 05-02-2015 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 năm 05 tháng tù, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 24-12 - 2016.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09 - 9 - 2022. Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

- Bị hại: Chị Dương Thị Q - Sinh năm 199x; nơi cư trú: Tổ 0x, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đinh Thị L, sinh năm 199x; nơi cư trú: Tổ 0x, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 15 tháng 8 năm 2022 Đinh Văn Đ một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Lebity mầu trắng BKS 24B1- 405.28 đi xuống thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, đến khoảng 19 giờ cùng ngày Đinh Văn Đ đi đến quán ăn đêm tại tổ 0x, phường M, thành phố Y mua đồ ăn, sau khi mua xong Đ quay ra để đi về, Đ đi ra đến cửa quán thì thấy chị Dương Thị Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Moden, màu đỏ đen BKS 21B1- 941.94 đi đến quán, chị Q dựng xe trên hành lang trước cửa quán, rồi mở cốp xe lấy ví và lấy tiền trong ví ra, để ví lại vào trong cốp xe, đi vào trong quán, Đ quan sát thấy chị Q đóng cốp xe nhưng không vặn khóa smart key để khóa cốp, Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên tiến lại gần chiếc xe ấn nút mở cốp xe và dùng tay trái nâng cốp xe lên, tay phải cho vào trong cốp để lấy ví rồi cho vào túi quần đang mặc, Đ đóng cốp xe lại và điều khiển xe mô tô về thuê phòng 203 khách sạn H, thuộc tổ 1x, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái để nghỉ. Tại phòng nghỉ Đ bỏ chiếc ví ra kiểm tra có 3.230.000 đồng và nhiều giấy tờ khác, Đ lấy tiền cất đi, ví và giấy tờ Đ để lên nóc tủ của phòng nghỉ. Số tiền trộm cắp được Đ đã chi tiêu hết cho bản thân.

Đến sáng ngày 16-8-2022 Đ điều khiển xe mô tô đi quanh thành phố Y, mục đích có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản, khi đi đến khu vực km7 thuộc phường Y, thành phố Y, Đ thấy chị Lê Thị Thu H, trú tại tổ 1x, phường Y, thành phố Y dựng xe mô tô để đi mua hàng, quan sát thấy chị H chưa đóng cốp xe Đ đi đến gần chiếc xe mô tô dùng tay phải cho vào trong cốp lấy chiếc túi xách ra giấu vào bên trong áo mưa rồi nhanh chóng đi đến khu vực Km5 thành phố Yên Bái dừng xe và mở túi xách ra xem, bên trong có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG mầu hồng, ốp mầu đen và một số giấy tờ. Sau đó Đ điều khiển xe mô tô đi lên huyện B, trên đường đi Đ không mở được mật khẩu điện thoại, sợ điện thoại cài định vị, nên Đ đã ném chiếc điện thoại cùng chiếc túi xách xuống sông Hồng.

Ngày 08-9-2022 Đ quay lại thành phố Yên Bái và thuê phòng 20x, khách sạn H để nghỉ, khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày tổ công tác Công an phường Minh Tân, phối hợp với Công an thành phố Yên Bái kiểm tra hành chính đối với Đinh Văn Đ tại phòng 20x, khách sạn H thuộc tổ 1x, phường Đ, thành phố Y đã thu giữ: 157.000.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Lybity BKS 24B1-405.28; 01 chiếc ví giả da mầu xanh da trời; 01 giấy phép lái xe; 01 đăng ký xe mô tô; 01 thẻ bảo hiểm y tế; 02 thẻ Ngân hàng MB; 01 thẻ Ngân hàng BIDV và 01 thẻ thành viên VinID đều mang tên Dương Thị Q.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số: 513/KL-HĐ ĐGTS ngày 07-10-2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Yên Bái kết luận: Số tiền 157.000.000 đồng là tiền thật.

* Tại kết luận giám định số 47/KL-KTHS ngày 07-10-2022 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Yên Bái kết luận: Chiếc ví giả da mầu xanh da trời, kích thước 10x15cm đã qua sử dụng, tại thời điểm bị trộm cắp ngày 15-8-2022 trị giá là 20.000 đồng.

* Tại công văn số 10/CV -HĐĐGTS Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Yên Bái trả lời Cơ quan điều tra Công an thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, đối với tài sản của chị Lê Thị Thu H bị trộm cắp ngày 16-8-2022. Do tài sản không thu hồi được, không có tài liệu nên không đủ điều kiện để định giá tài sản.

* Cáo trạng số 76/CT-VKSTP ngày 16-11-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố Đinh Văn Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn Đ phạm tội: Trộm cắp tài sản.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn Đ từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù;

+ Hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, để nộp ngân sách nhà nước.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, do đó không đề nghị giải quyết.

- Về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo: Giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng bị thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 15-8-2022 Đinh Văn Đ đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị Dương Thị Q tổng giá trị tài sản là 3.250.000 đồng. Hành vi của bị cáo Đinh Văn Đ đã phạm tội: Trộm cắp tài sản. Do bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đã gây mất trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân. Do đó, cần phải đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có sức khỏe và đủ năng lực nhận thức điều chỉnh mọi hoạt động của bản thân, bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, do lười lao động và để có tiền sử dụng cho bản thân, nên cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã ba lần bị các Tòa án xét xử đều về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi trở về địa phương bị cáo không lấy đó làm bài học rèn luyện bản thân để trở thành người có ích cho xã hội mà lại còn tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo rất kém. Do đó, cần có một mức hình phạt thỏa đáng tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bố đẻ bị cáo được nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhì. Do đó, xem xét cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Hình phạt bổ sung: Cần phạt bị cáo một khoản tiền để nộp vào ngân sách nhà nước.

Về vật chứng:

Đối với số tiền 157.000.000 đồng thu giữ của bị cáo, cơ quan điều tra Công an thành phố Yên Bái đã chuyển cho cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai số tiền 70.900.000 đồng là vật chứng trong một vụ án khác, và trả cho chị Định Thị L (vợ bị cáo) 80.000.000 đồng và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Lybity BKS 24B1-405.28 là tài sản chung hợp pháp của chị L và bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội là phù hợp.

Đối với số tiền 6.100.000 đồng là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến tội phạm. Do đó, cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Dương Thị Q đã nhận lại các giấy tờ, còn số tiền 3.230.000 đồng chị Q chưa nhận được, nhưng chị không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên HĐXX không xem xét.

Đối với hành vi trộm cắp tài sản của chị Lê Thị Thu H ngày 16-8-2022, do không đủ căn cứ, nên cơ quan điều tra không để nghị xử lý trong vụ án này là phù hợp.

Đối với hành vi trộm cắp tài sản này 27 -12 - 2021 tại huyện B, tỉnh Lào Cai vào các ngày 30-12-2020; ngày 11-12-2021; ngày 23-12-2021 ở nhiều nơi, nhiều địa điểm khác nhau tại thành phố Lào Cai, Cơ quan điều tra Công an huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai và Cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai đã khởi tố theo thẩm quyền, nên không xem xét giải quyết trong vụ án này là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

2.1 Căn cứ điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn Đ 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 09-9-2022.

2.2 Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.

3. Vê vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Trả lại cho bị cáo Đinh Văn Đ 6.100.000 đồng (sáu triệu một trăm nghìn đồng) được niêm phong trong phong bì niêm phong do Công an thành phố Yên Bái phát hành. Mặt trước của phong bì có ghi “ Tiền do Đinh Văn Đ tự nguyện giao nộp ngày 08-9-2022” (sau khi xử lý vật chứng), nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17-11-2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đinh Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7,7a, 7b và điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án.

Cỡ chữ