- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Chung Chí P đều phạm tội "Cướp giật tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T P THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2022/HSST Ngày: 27 - 04 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T P, THÀNH PHỐ H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Thu Thảo;
2/ Bà Khưu Thị Ngọc Bích – Giáo viên thuộc Phòng Giáo dục đào tạo quận T P;
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận T P, thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T P, thành phố H tham gia phiên toà: ông Khổng Sơn Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T P, TP. H xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 26/2022/HSST ngày 08 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 03 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Hoàng N; sinh ngày 12/9/2005, tại: A G; Nơi đăng ký NKTT: ấp T H, xã N T, huyện T O, tỉnh A G; chỗ ở hiện nay: 2637/21/12B H T P, tổ 6, ấp 4, xã P X, huyện N B, TP. H; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: không biết chữ; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: không rõ và bà: Nguyễn Thị Cẩm V (chết); tiền sự: không; tiền án: không;
Bị bắt tạm giữ ngày 23/5/2021 và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T P, tp. H và có mặt tại phiên tòa.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo:
1. Luật sư Chung Ngọc T – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước TP. H (Có mặt).
2. Luật sư Vũ Quốc T – Công ty luật TNHH MTV T Q thuộc Đoàn luật sư TP. H (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Hoàng N: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1998 (Chị ruột của bị cáo N); trú tại: 2637/21/12B H T P, tổ 6, ấp 4, xã P X, huyện N B, TP. H (Có mặt).
2. Chung Chí P, sinh ngày 06/12/2003, tại: K G; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp M D, xã D H, huyện K L, tỉnh K G; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: không biết chữ; giới tính: nam; dân tộc: kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Chung Ngọc Thanh (chết) và bà: Dương Thị L, sinh năm 1976; tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt tạm giữ ngày 07/02/2022 và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T P, tp. H và có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: anh Huỳnh Mạnh T, sinh năm 1998; trú tại: đường số 3, khu phố 4, phường Linh Trung, TP. Thủ Đức, TP. H (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Phạm Quốc Cường, sinh năm 1971; trú tại: 301/15 Bis đường D B T, phường 1, quận 8, TP. H. (Vắng mặt).
2. Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1998; trú tại: 2637/21/12B H T P, tổ 6, ấp 4, xã P X, huyện N B, TP. H (Có mặt).
3. Anh Chung Ngọc Liêm, sinh năm 2000; trú tại: 001-002 Chung cư Bình Đăng, phường 6, quận 8, TP. H (Vắng mặt).
4. Anh Lưu Thành Phúc, sinh năm 1987; trú tại: 71 Nguyễn Văn Cự, phường Tân Tạo, quận Bình Tân, TP. H (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoàng N và Chung Chí P là bạn bè quen biết với nhau từ trước. Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 23/5/2021, do không có tiền tiêu xài nên N rủ P đi cướp giật tài sản, P đồng ý. Sau đó, N mượn xe gắn máy Honda Vario màu xám cam biển số 59L2 - 8xx.xx của chị Nguyễn Thị Thu H (chị ruột của N) và giao xe cho P điều khiển, chở N đi tìm tài sản sơ hở để cướp giật. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi lưu thông trên đường T S N thì N nhìn thấy anh Huỳnh Mạnh T đang điều khiển xe gắn máy hiệu Vision biển số 78G1-4xxxx lưu thông cùng chiều, đang sử dụng điện thoại di động hiệu Oppo F9 màu xanh đen, để bên tai trái bên trong quai nón bảo hiểm, lộ ra bên ngoài một phần điện thoại. Thấy vậy, N nói P cướp giật điện thoại di động trên. P đồng ý, điều khiển xe gắn máy biển số 59L2 - 8xxxx chở N từ phía sau chạy lên áp sát vào bên trái của anh Tuấn, khi tới trước số 73 T S N, phường T S N, quận T P, N dùng tay phải giật được điện thoại di động hiệu Oppo F9 màu xanh đen của anh Tuấn, rồi cả hai tăng ga bỏ chạy hướng ra T C.
Ngay sau đó, anh Tuấn tri hô và điều khiển xe gắn máy đuổi theo N và P, lúc này, tổ tuần tra Cảnh sát hình sự Công an quận T P phát hiện nên đã tiến hành truy đuổi, khi đến trước nhà số 571 T C, phường T S N, quận T P thì N, P bị ngã xe. N bỏ chạy bộ đến trước nhà số 551 T C, phường 14, quận T B thì ném điện thoại di động vừa giật được của anh Tuấn, tiếp tục bỏ chạy thì bị tổ tuần tra Công an quận T P bắt giữ đưa về trụ sở Công an phường T S N xử lý, còn P bỏ chạy bộ.
Đến ngày 31/01/2022, Châu Chí P bị Công an quận T P khởi tố bị can và ra lệnh bắt tạm giam.
Tại cơ quan điều tra Công an quận T P, Nguyễn Hoàng N, Chung Chí P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Theo kết luận định giá số 1458/KL-HĐĐGTS ngày 23/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T P, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9 màu xanh đen, trị giá 1.500.000 đồng.
Ngoài ra, Nguyễn Hoàng N khai nhận cùng với Chung Chí P thực hiện các vụ cướp giật trên địa bàn Quận 11, huyện N B như sau:
Vụ thứ 1: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 23/5/2021, Chung Chí P khiển xe máy biển số 59L2 - 8xxxx chở Nguyễn Hoàng N ngồi sau cướp giật điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng, ốp lưng màu nâu tại trước số 1943-1945 H T P, KP5, thị trấn N B, huyện N B, Thành phố H. Hiện nay, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N B đã tiến hành rà soát vụ việc và thông báo tìm bị hại nhưng chưa có kết quả.
Vụ thứ 2: Vào khoảng 16 giờ 15 phút ngày 23/5/2021 Chung Chí P khiển xe máy biển số 59L2 - 8xxxx chở Hoàng N ngồi sau giật điện thoại di động hiệu Samsung J4 Plus màu tím của chị Lê Thị Tuyết Hồng tại trước số 182 Lê Đại Hành, phường 15, Quận 11, TP. H. Qua xác minh tại Công an Phường 15, Quận 11, Thành phố H được biết vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 23/5/2021 có tiếp nhận tố giác về tội phạm của chị Lê Thị Tuyết Hồng. Cơ quan CSĐT Công an quận T P thông báo đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 11, thành phố H về việc phối hợp điều tra xử lý. Hiện nay Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã tiếp nhận vật chứng của vụ án và đang điều tra.
Vật chứng thu giữ:
1) Thu giữ của Nguyễn Hoàng N:
- 01 điện thoại di động OPPO F9 màu xanh đen, đã qua sử dụng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T P đã trả cho anh Huỳnh Mạnh T.
- 01 xe gắn máy Honda Vario màu xám cam, biển số 59L2-8xx.xx là phương tiện Nguyễn Hoàng N sử dụng để đi cướp giật tài sản. Qua xác minh, xe gắn máy trên do ông Phạm Quốc Cường, ngụ tại số 301/15 Bis, đường D B T, Phường 1, Quận 8, Thành phố H đứng tên sở hữu, ông Cường cho biết vào ngày 22/3/2021, ông đã bán xe gắn máy trên tại cửa hàng 540-542 đường M P, phường 9, Quận E, Thành phố H. Làm việc với chị Nguyễn Thị Thu H (chị ruột của Nguyễn Hoàng N) khai mua xe gắn máy trên với giá 40.400.000 đồng, chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 23/5/2021 chị Hương cho Nguyễn Hoàng N mượn xe để đi, việc N sử dụng xe trên để cướp giật tài sản, chị Hương không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T P đã trả cho chị Nguyễn Thị Thu H.
- 01 điện thoại di động Iphone 12 promax, màu trắng đã qua sử dụng (tài sản thu giữ của Nguyễn Hoàng N), ngày 23/5/2021, chị H cho Nguyễn Hoàng N mượn điện thoại, N dùng điện thoại trên để liên lạc cá nhân nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T P đã trả cho chị Nguyễn Thị Thu H
- 01 điện thoại di động Samsung J4 Plus màu hồng, đã qua sử dụng là tài sản trong vụ cướp giật tài sản tại trước số 182 L Đ H, phường 15, quận E Thành phố H, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T P đã chuyển vật chứng để Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận E để xử lý theo thẩm quyền.
- 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng, ốp lưng màu xanh lá, đã qua sử dụng, N khai là điện thoại của Chung Chí P.
- 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng, ốp lưng màu nâu, đã qua sử dụng, N khai là tài sản trong vụ cướp giật tài sản tại trước số 1943-1945 H T P, KP5, thị trấn N B, huyện N B, Thành phố H.
Các vật chứng trên đang nhập kho vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 90/PNK ngày 24/6/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T P.
2) Thu giữ của Chung Chí P:
- 01 điện thoại Iphone X màu trắng, P khai nhận điện thoại trên mượn của anh trai Chung Ngọc Liêm.
- 01 điện thoại Iphone 6 plus màu trắng, P khai nhận điện thoại trên mượn của chú Lưu Thành Phúc.
Các vật chứng trên đang nhập kho vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 24/PNK ngày 18/02/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T P.
Về phần dân sự: anh Huỳnh Mạnh T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 30/CT-VKSQ.TP ngày 07 tháng 3 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân quận T P, TP. H đã truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Chung Chí P về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên Tòa:
- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận T P giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91, 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng; Xử phạt bị cáo Chung Chí P từ 02 năm 03 tháng đến 03 năm tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập xử lý phần trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng.
- Bị cáo Nguyễn Hoàng N, Chung Chí P đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng N phát biểu: thống nhất về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo có trình độ văn hóa thấp, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người chưa thành niên, nên hạn chế về khả năng nhận thức. Hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp rất nhiều khó khăn. Hiện bị cáo đang sống với chị ruột, nên thiếu sự quan tâm, chăm sóc giáo dục từ gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Chung Chí P đã khai nhận như sau: Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 23/5/2021, Chung Chí P điều khiển xe gắn máy Honda Vario màu xám cam, biển số 59L2-8xx.xx chở Nguyễn Hoàng N ngồi sau có hành vi cướp giật 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9 màu xanh đen, trị giá 1.500.000 đồng, của anh Huỳnh Mạnh T, tại trước nhà số 73 T S N, phường T S N, quận T P thì bị bắt.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của những người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Cáo trạng số 30/CT-VKSQ.TP ngày 07/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận T P, TP. H đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng N, Chung Chí P về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần thiết xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ và hậu quả do các bị cáo gây ra để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Vụ án có nhiều bị cáo tham gia nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn vì giữa các bị cáo không có sự phân công, bàn bạc và câu kết chặt chẻ. Để có cơ sở lượng hình, Hội đồng xét xử phân tích vai trò tham gia của từng bị cáo trong vụ án, cụ thể như sau:
- Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng N: là người trực tiếp rủ rê, lôi kéo bị cáo Chung Chí P thực hiện hành vi phạm tội. Chính bị cáo là người trực tiếp giật 01 điện thoại di động của anh Huỳnh Mạnh T.
- Đối với bị cáo Chung Chí P: khi được N rủ đi cướp giật tài sản bán lấy tiền tiêu xài P đồng ý và chở N đi cướp giật tài sản. Khi phát hiện anh Tuấn đang điều khiển xe gắn máy sử dụng điện thoại di động, P liền áp sát anh Tuấn để N ra tay cướp giật điện thoại di động của anh Tuấn rồi tăng ga tẩu thoát.
Tuy nhiên, khi nghị án lượng hình cũng cần cân nhắc xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, tài sản đã kịp thu hồi và trao trả cho chủ sở hữu nên hành vi phạm tội của các bị cáo gây thiệt không lớn. Các tình tiết giảm nhẹ nêu trên được quy định tại điểm h,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Mặt khác, khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người chưa thành niên nên hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 khi lượng hình.
Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra đã thu hồi 01 điện thoại di động Oppo F9, màu đen và lập biên bản trao trả cho người bị hại. Người bị hại anh Huỳnh Mạnh T không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
* Thu giữ của Nguyễn Hoàng N:
- Đối với 01 điện thoại di động OPPO F9 màu xanh đen, đã qua sử dụng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T P đã trả cho anh Huỳnh Mạnh T là phù hợp.
- Đối với 01 xe gắn máy Honda Vario màu xám cam, biển số 59L2-8xx.xx là phương tiện Nguyễn Hoàng N sử dụng để đi cướp giật tài sản. Qua xác minh, xe gắn máy trên do ông Phạm Quốc Cường, ngụ tại số 301/15 Bis, đường D B T, Phường 1, Quận T, Thành phố H đứng tên sở hữu, ông C cho biết vào ngày 22/3/2021, ông đã bán xe gắn máy trên tại cửa hàng 540-542 đường M P, phường 9, Quận 11, Thành phố H. Làm việc với chị Nguyễn Thị Thu H (chị ruột của Nguyễn Hoàng N) khai mua xe gắn máy trên với giá 40.400.000 đồng, chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 23/5/2021 chị Hương cho Nguyễn Hoàng N mượn xe để đi, việc N sử dụng xe trên để cướp giật tài sản, chị H không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T P đã trả cho chị Nguyễn Thị Thu H là có căn cứ.
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 12 promax, màu trắng đã qua sử dụng (tài sản thu giữ của Nguyễn Hoàng N), ngày 23/5/2021, chị H cho Nguyễn Hoàng N mượn điện thoại, N dùng điện thoại trên để liên lạc cá nhân nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T P đã trả cho chị Nguyễn Thị Thu H là phù hợp.
- Đối với 01 điện thoại di động Samsung J4 Plus màu hồng, đã qua sử dụng là tài sản trong vụ cướp giật tài sản tại trước số 182 L Đ H, phường 15, quận 11, Thành phố H, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T P, TP. H đã chuyển vật chứng để Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 11, TP. H để xử lý theo thẩm quyền là phù hợp.
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng, ốp lưng màu xanh lá, đã qua sử dụng, N khai là điện thoại của Chung Trí P. Xét không liên quan đến vụ án này, nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng, ốp lưng màu nâu, đã qua sử dụng, N khai là tài sản trong vụ cướp giật tài sản tại trước số 1943-1945 H T P, KP5, thị trấn N B, huyện N B, Thành phố H. Xét không liên quan đến vụ án, giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T P, TP. H xử lý theo quy định của pháp luật.
Các vật chứng trên đang nhập kho vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 90/PNK ngày 24/6/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T P.
* Thu giữ của Chung Chí P:
- 01 điện thoại Iphone X màu trắng, P khai nhận điện thoại trên mượn của anh trai Chung Ngọc Liêm. Xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nên tuyên trả lại cho anh Liêm.
- 01 điện thoại Iphone 6 plus màu trắng, P khai nhận điện thoại trên mượn của chú Lưu Thành Phúc. Xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nên tuyên trả lại cho anh Phúc.
Các vật chứng trên đang nhập kho vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 24/PNK ngày 18/02/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T P.
Án phí: các bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Chung Chí P đều phạm tội "Cướp giật tài sản".
[2] Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 90; khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hoàng N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 23/5/2021.
[4] Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171; điểm h,s khoản 1 Điều 51; Điều 90; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Xử phạt: bị cáo Chung Chí P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 07/02/2022.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng N 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng, ốp lưng màu xanh lá, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho anh Chung Ngọc Liêm: 01 điện thoại Iphone X màu trắng.
- Trả lại cho anh Lưu Thành Phúc: 01 điện thoại Iphone 6 plus màu trắng.
- Giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T P, TP. H xử lý theo quy định của pháp luật đối với: 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng, ốp lưng màu nâu, đã qua sử dụng.
Các vật chứng trên đang nhập kho vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 90/PNK ngày 24/6/2021 và phiếu nhập kho vật chứng số 24/PNK ngày 18/02/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T P, TP. H.
[7] Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Chung Chí P. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Các bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị cáo N có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân thành phố H. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có QL&NV liên quan; - VKSND Q.T P; - THADS quận T P; - Công an Q.T P; - TAND TP. HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - Lưu hồ sơ. | Nguyễn Đức Thành |