- Tranh chấp gì? án hình sự — "B trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo Đỗ Văn B cho Ủy ban nhân dân xã Kênh Giang, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng giám sát giáo dục, theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2022/HS-ST Ngày 12-7-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Ngọc Tân
Ông Nguyễn Thanh Hải.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Đậm - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 94/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
Đỗ Văn B, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1988 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 1, xã Kênh Giang, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Đỗ Văn Đ và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Hoàng Thị H và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 27 tháng 4 năm 2022 đến ngày 06/5/2022 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Bị hại: Công ty TNHH R; địa chỉ: Lô I-4 Khu công nghiệp V Hải Phòng, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H, chức vụ: Chủ quản an ninh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Văn B là công nhân quản lý bộ phận đóng gói PACK 7 thuộc tòa nhà B2, nhà máy A, Công ty TNHH R (viết tắt Công ty R) thuộc khu Công nghiệp Visip Thủy Nguyên, Hải Phòng là công ty có 100% vốn nước ngoài. Trong quá trình làm việc Đỗ Văn B biết khi đóng gói hàng hóa là áo lót phụ nữ nếu mỗi kiện hàng bị thừa một hoặc hai chiếc sẽ không đóng kiện mới mà được chuyển trả lại bộ phận sản xuất nên B đã nảy sinh ý định trộm cắp số tài sản này mang về cho người thân trong gia đình sử dụng. Từ tháng 2/2021 sau mỗi lần đóng hàng, B trộm cắp từ một đến hai chiếc áo lót nhãn hiệu Lasenza đem giấu vào thùng bìa carton để ở nhà kho tại tầng 3, tòa nhà B2. Đến tháng 8/2021, B trộm cắp được 30 chiếc áo lót nhãn hiệu Lasenza gồm nhiều màu sắc, kích cỡ khác nhau. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 26/4/2022, B lấy toàn bộ số tài sản đã trộm cắp được giấu vào trong người để mang về nhà nhưng khi đi đến tầng 1 thì bị công ty phát hiện bắt quả tang.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 27/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thủy Nguyên kết luận 30 chiếc áo lót nhãn hiệu Lasenza chưa qua sử dụng của Công ty R trị giá 4.236.000 đồng.
Vật chứng của vụ án: 30 chiếc áo lót nữ nhãn hiệu Lasenza thuộc sở hữu của Công ty R, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty R đã nhận lại tài sản, không yêu cầu Đỗ Văn B phải bồi thường.
Tại Cáo trạng số 102/CT-VKS ngày 28/6/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố Đỗ Văn B về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Đỗ Văn B từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản.
Buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận thực hiện hành vi như đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ tháng 2/2021 đến tháng 8/2021, Đỗ Văn B đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của Công ty R lén lút chiếm đoạt 30 chiếc áo lót phụ nữ nhãn hiệu Lasenza của công ty trị giá 4.236.000 đồng. Hành vi bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đối với bị cáo về tội danh và khung hình phạt là có cơ sở, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được pháp luật bảo vệ nên cần thiết đưa ra xét xử nghiêm để răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “phạm tội lần đầu, gây thiệt hại không lớn” và “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” đây là các tình tiết qui định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về quyết định hình phạt: Bị cáo nhân thân không tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, giá trị tài sản chiếm đoạt không lớn và đã được thu hồi; được hưởng 3 tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 1 Điều 51 BLHS. Do vậy, có thể cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đồng thời cũng đủ răn đe phòng ngừa tội phạm được quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo có mức độ, bị mất việc làm, không có thu nhập nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 và phải khấu trừ thu nhập theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự, vật chứng của vụ án: Công ty R đã nhận lại tài sản trộm cắp, không yêu cầu Đỗ Văn B phải bồi thường do vậy HĐXX không xét, giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự; xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn B 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản. Trừ cho bị cáo 9 ngày tạm giữ bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ (từ ngày 27 tháng 4 năm 2022 đến ngày 06/5/2022), bị cáo còn phải chấp hành 17 tháng 03 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Kênh Giang, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Đỗ Văn B cho Ủy ban nhân dân xã Kênh Giang, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng giám sát giáo dục, theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
(Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án Hình sự).
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Công an thành phố Hải Phòng; - Cục THADS thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Bị cáo; - Bị hại; - Phòng KTNV và THA; - UBND xã (nơi BC cư trú); - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hà |