vanban.org

Bản án 87/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn giữa bà Võ Thị Thanh T và ông Huỳnh Quang H.

Về con chung: Giao con chung: Huỳnh Nguyên Khang – sinh ngày: 31/7/2014 cho bà Võ Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Bà Võ Thị Thanh T không yêu cầu ông Huỳnh Quang H cấp dưỡng nuôi con chung. Ông H được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn giữa bà Võ Thị Thanh T và ông Huỳnh Quang H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 01/8/2022
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Oai

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Hải Hùng

Ông Hồ Trọng Phúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khải – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Ngân – Kiểm sát viên.

Ngày 01/8/2022, Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 244/2022/HNGĐ ngày 01/4/2022 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2022/QĐXXST-DS ngày 28/6/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/7/2022 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thanh T − Sinh năm: 1996

Địa chỉ: Thôn Bình Trị, xã Ninh Bình, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt, có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt theo công văn đến ngày 15/7/2022).

- Bị đơn: Ông Huỳnh Quang H − Sinh năm: 1995

Địa chỉ: Thôn Tân Quang, xã Ninh Quang, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các lời khai tiếp theo và tại các biên bản hòa giải không được, nguyên đơn bà Võ Thị Thanh T trình bày: Bà và ông Huỳnh Quang H có đăng ký kết hôn vào năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã Ninh Quang, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Trong thời gian chung sống với nhau, giữa bà và ông H thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó xảy ra nhiều mâu thuẩn do tính tình không hòa hợp nhau, thường xuyên kình cãi, ông H có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác dẫn đến vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Hiện nay, bà và ông H không còn chung sống với nhau hai năm. Nay cuộc sống vợ chồng mâu thuẫn, tình cảm của bà dành cho ông H không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H. Về con chung: Bà và ông H có 01 con chung là Huỳnh Nguyên Khang – sinh ngày: 31/7/2014. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn ông Huỳnh Quang H mặc dù đã được tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời khai trong vụ án.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, ông Huỳnh Quang H vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn. Bà Võ Thị Thanh T được ly hôn với ông Huỳnh Quang H. Về con chung: căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giao con chung Huỳnh Nguyên Khang – sinh ngày: 31/7/2014 cho bà T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị không xem xét. Ông H được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Về tài sản chung: bà T không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: không có. Về án phí: Bà Võ Thị Thanh T phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về phần thủ tục tố tụng:

Bà Võ Thị Thanh T là nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Riêng ông Huỳnh Quang H là bị đơn trong vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng nhưng ông H vẫn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Thanh T và ông Huỳnh Quang H tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Ninh Quang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 23/2015 ngày 20/3/2015, do vậy đây là hôn nhân hợp pháp. Qua các tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống chung của vợ chồng bà T, ông H không hòa hợp, thường xuyên kình cãi, ông H có quan hệ với người phụ nữ khác. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và bà T đã nhiều lần hàn gắn nhưng vẫn không được. Hiện tại, bà T đã không còn sống chung và không còn tình cảm với ông H. Ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Như vậy có đủ căn cứ xác định ông không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, vợ chồng không còn tin tưởng, yêu thương nhau, chăm sóc lẫn nhau, do vậy yêu cầu xin ly hôn của bà T là có cơ sở để chấp nhận.

Về con chung: Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung: Huỳnh Nguyên Khang – sinh ngày: 31/7/2014, không yêu cầu ông H cấp dưỡng, Hội đồng xét xử xét thấy cháu Khang đang ở với bà T và hiện tại cháu còn nhỏ, cần thiết phải có sự chăm sóc của người mẹ nên cần giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, xét thấy đây là yêu cầu phù hợp nên chấp nhận.

Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu nên không giải quyết.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn giữa bà Võ Thị Thanh T và ông Huỳnh Quang H.

2. Về con chung: Giao con chung: Huỳnh Nguyên Khang – sinh ngày: 31/7/2014 cho bà Võ Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Bà Võ Thị Thanh T không yêu cầu ông Huỳnh Quang H cấp dưỡng nuôi con chung. Ông H được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết cha, mẹ có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung hoặc khi có căn cứ theo điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Bà Võ Thị Thanh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí: Bà Võ Thị Thanh T phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0004666 ngày 29 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Bà T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ