vanban.org

Bản án 87/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Néang Sóc N.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Néang Sóc N được ly hôn với ông Chau Kim S. Về quan hệ con chung: Bà Néang Sóc N tiếp tục nuôi con chung tên Néang Srây NN, sinh ngày 10/02/2014. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Néang Soc Na ly hôn với ông Chau Kim Sêng"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Néang Sóc N.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 87/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 23/12/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT – TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Văn Dũng;

2. Bà Trần Ngọc Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Chau Chanh Đô Ra - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TT.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT tham gia phiên tòa: Bà Trầm Ngọc Minh Thư – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 346/2022/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 11 năm 2022 về: “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2022/QĐXX- DS ngày 15 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Néang Sóc N, sinh năm: 1996; địa chỉ cư trú: Tổ 02, ấp AT, xã AH, huyện TB, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Chau Kim S, sinh năm: 1990; địa chỉ cư trú: Tổ 04, ấp PhP, xã CL, huyện TT, tỉnh An Giang.

(Tại phiên tòa, bà N có mặt; ông S vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 26/10/2022 với các tài liệu kèm theo cũng như quá trình tố tụng tại tòa, bà Néang Sóc N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà với ông S được hình thành là do tự tìm hiểu, được cha mẹ đứng ra tổ chức đám cưới cho hai người vào năm 2013, hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND xã AH, huyện TB, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 63 ngày 13/5/2014. Cuộc sống chung hạnh phúc được đến tháng 10/2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do kinh tế gia đình khó khăn, phải lên Bình Dương làm thuê, nhưng ông S thay đổi bản tính, tụ tập bạn bè ăn nhậu, xúc phạm đến bà, bỏ bên gia đình, không quan tâm đến vợ con, cứ vậy mà diễn ra trong thời gian dài bà không chịu đựng được nữa nên hai người ly thân nhau từ 05 năm nay. Trong thời gian ly thân gia đình bỏ mặt không đứng ra hàn gắn. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà xin ly hôn với ông S.

Về quan hệ con chung: Bà với ông S có 01 con chung tên Néang Srây NN, sinh ngày 10/02/2014, hiện do bà nuôi. Khi ly hôn, bà yêu cầu tiếp tục nuôi và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung: Bà với ông S không có tài sản chung.

Về quan hệ nợ chung: Bà với ông S không có nợ chung.

Tòa án đã thông báo hợp lệ cho ông Chau Kim S để tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông vẫn vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, bà N bảo lưu ý kiến của mình. Riêng ông S đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng ông vẫn vắng mặt.

Quan điểm của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết đúng theo trình tự thủ tục, xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự trong vụ án cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Bà N – ông S chung sống có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống ông S bỏ bê gia đình, tập trung ăn nhậu và hai người ly thân từ 05 năm nay…. nên bà N xin ly hôn là có căn cứ. Về con chung, bà N yêu cầu nuôi theo ý nguyện của cháu NN, ông S không có ý kiến. Xét yêu cầu của bà N là có căn cứ. Về tài sản chung và nợ chung không xem xét. Từ phân tích trên đề nghị HĐXX xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên. HĐXX nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Bà N khởi kiện: “Tranh chấp ly hôn” với ông S, là thuộc thẩm quyền của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; ông S có địa chỉ cư trú tại xã CL, huyện TT, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện TT thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền. Ông S được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nên HĐXX xét xử vắng mặt theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân: Bà N – ông S kết hôn và chung sống với nhau vào năm 2013, hôn nhân có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số số 63 ngày 13/5/2014, nên xem là hôn nhân hợp pháp.

Tại phiên tòa, bà N bảo lưu ý kiến của mình, thể hiện do ông S thay đổi bản tính, tụ tập bạn bè ăn nhậu, xúc phạm đến bà, bỏ bên gia đình, không quan tâm đến vợ con, cứ vậy mà diễn ra trong thời gian dài bà không chịu đựng được nữa …

Qua trình bày của bà N, mặc dù ông S vắng mặt, nhưng tại biên bản xác minh vào ngày 22/11/2022; 25/11/2022 của Tòa án thể hiện: Vợ chồng N – S mâu thuẫn nhau từ khi hai người lên Bình Dương làm thuê và vợ chồng ly thân nhau từ 05 năm nay, được biết hiện bà N và ông S cũng đều có gia đình với người khác, nên khã năng đoàn tụ chung sống lại với nhau là không thể…

Với chứng cứ thu thập vừa nêu, xét mâu thuẫn giữa bà N – ông S đã thật sự trầm trọng; đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, HĐXX nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N.

. Về quan hệ con chung: Xét thấy, cháu Néang Srây NN từ trước nay do bà N nuôi, tình cảm giữa cháu NN với bà N đã thật sự gắn bó, ý nguyện của cháu NN là cha mẹ ly hôn thì cháu xin tiếp tục sống cùng mẹ. Để không xáo trộn về tâm sinh lý của cháu NN cũng như tạo điều kiện cho cháu phát triển tốt về sau, HĐXX nghĩ nên chấp nhận giao cháu NN cho bà N tiếp tục nuôi là hoàn toàn phù hợp.

HĐXX cũng giải thích cho bà N biết: Trong thời gian nuôi con, bà N cùng người thân trong gia đình không được cản trở ông S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng bà N không yêu cầu nên HĐXX công nhận sự tự nguyện.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà N khai bà với ông S không có tài sản chung và không có nợ chung. Tuy nhiên do ông S vắng mặt, nên HĐXX không xem xét và không đề cặp ở phần quyết định. Nếu sau này ông S có chứng cứ khác chứng minh có tài san chung, có nợ chung và ông S có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bà N là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; các bên không phải chịu án phí nào khác.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Néang Sóc N.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Néang Sóc N được ly hôn với ông Chau Kim S.

Về quan hệ con chung: Bà Néang Sóc N tiếp tục nuôi con chung tên Néang Srây NN, sinh ngày 10/02/2014.

Công nhận tự nguyện của bà Néang Sóc N không yêu cầu ông Chau Kim S cấp dưỡng nuôi con.

Bà N cùng người thân trong gia đình không được cản trở ông S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về án phí: Bà Néang Sóc N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009684 ngày 26/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TT (bà N nộp đủ).

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/12/2022), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ