vanban.org

Bản án 87/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu, chị Cao Thị H được ly hôn anh Phạm Văn V.

Về con chung: Giao cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Phạm Văn K, sinh ngày 22/01/2012, Phạm Ngọc H1, sinh ngày 23/8/2015, Phạm Hoàng A, sinh ngày 27/01/2020 và Phạm Ngọc N1, sinh ngày 27/01/2020. Anh V cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu hằng tháng là 1.000.000đ (Một triệu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cao Thị H - Phạm Văn V"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu, chị Cao Thị H được ly hôn anh Phạm Văn V.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC LẶC
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 13 - 12 - 2022
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Hoàn

Ông Phạm Văn Điểm

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trọng Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 187/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2022 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 76/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Cao Thị H; sinh năm: 1993; HKTT: Thôn Q, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hoá; chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hoá.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn V; sinh năm: 1990; HKTT: Thôn Q, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hoá; chỗ ở hiện nay: Thôn Q, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hoá.

Tại phiên toà vắng mặt chị H, anh V. Chị H đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh V vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 13/7/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Cao Thị H trình bày: Chị và anh Phạm Văn V kết hôn tự nguyện, đăng ký ngày 18/02/2011 tại Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hoá. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận được khoảng 10 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Hai bên gia đình đã hoà giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống chung một nhà nhưng không ai quan tâm tới ai. Hiện chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hoá sinh sống. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh V.

Về con chung: Chị và anh Vương có 04 con chung là Phạm Văn K, sinh ngày 22/01/2012, Phạm Ngọc H1, sinh ngày 23/8/2015, Phạm Hoàng A, sinh ngày 27/01/2020 và Phạm Ngọc N1, sinh ngày 27/01/2020. Ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi bốn con, yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu mỗi tháng là 1.000.000đ (Một triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng từ nay cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Phạm Văn V để làm bản tự khai, trình bày ý kiến về những nội dung yêu cầu khởi kiện của chị H nhưng anh V không có mặt nên không có lời khai của anh V và các bên không thống nhất được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án. Toà án đã phối hợp với chính quyền địa phương tống đạt các văn bản tố tụng cho anh V, tuy nhiên anh V không nhận văn bản nên Toà án đã lập biên bản về việc anh V không nhận văn bản tố tụng.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); chị H đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, anh V không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh V triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên hoà nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt cả hai bên đương sự theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 BLTTDS. Về giao nhận, tống đạt văn bản tố tụng Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận đơn yêu cầu, chị Cao Thị H được ly hôn anh Phạm Văn V. Giao cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng Phạm Văn K, sinh ngày 22/01/2012, Phạm Ngọc H1, sinh ngày 23/8/2015, Phạm Hoàng A, sinh ngày 27/01/2020 và Phạm Ngọc N1, sinh ngày 27/01/2020. Anh V cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu hằng tháng là 1.000.000đ (Một triệu đồng). Thời điểm cấp dưỡng từ tháng 12/2022 cho đến khi các cháu thành niên. Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn theo quy định của pháp luật. Anh V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn anh Phạm Văn V đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn Q, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hoá nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Chị Cao Thị H đã có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt, anh Phạm Văn V đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên hoà nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Toà án xét xử vắng mặt chị H, anh V theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228 BLTTDS.

Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh V có đăng ký kết hôn ngày 18/02/2011 tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hoá là hôn nhân hợp pháp.

Đánh giá thực trạng về quan hệ hôn nhân: Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Khi xảy ra mâu thuẫn anh chị không tìm ra biện pháp khắc phục mà đã không quan tâm đến nhau. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn. Về phía anh V biết việc chị H làm đơn xin ly hôn và Toà án đã ra thông báo thụ lý vụ án, Toà án đã phối hợp với chính quyền địa phương tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh V không nhận văn bản tố tụng, không đến Toà án làm việc, không giao nộp văn bản nêu ý kiến, mặc dù đã được Toà án triệu tập nhiều lần nhưng không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và không đến tham gia phiên toà. Điều này thể hiện anh V không quan tâm đến hạnh phúc gia đình và có ý bỏ mặc. Xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung đã chấm dứt, mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hoà thuận, hạnh phúc, bền vững không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh V là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị H và anh V có 04 con chung là Phạm Văn K, sinh ngày 22/01/2012, Phạm Ngọc H1, sinh ngày 23/8/2015, Phạm Hoàng A, sinh ngày 27/01/2020 và Phạm Ngọc N1, sinh ngày 27/01/2020. Nguyện vọng của chị H khi ly hôn: chị là người trực tiếp nuôi bốn cháu. Cháu K và cháu H1 có nguyện vọng muốn được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Cháu A và cháu N1 chưa đủ 03 tuổi, theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, cháu được giao cho chị H trực tiếp nuôi. HĐXX xét thấy, để không bị xáo trộn cuộc sống và đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho các cháu, cũng như theo nguyện vọng của cháu K và cháu H1, chấp nhận yêu cầu của chị H, giao cả bốn cháu cho chị H trực tiếp nuôi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Xét thấy mức yêu cầu cấp dưỡng của chị H là phù hợp, buộc anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu hằng tháng là 1.000.000đ (Một triệu đồng). Thời điểm cấp dưỡng từ tháng 12/2022 cho đến khi các cháu thành niên.

Về tài sản: Chị H không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn theo quy định của pháp luật.

Anh V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83; 107; 110 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 482 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu, chị Cao Thị H được ly hôn anh Phạm Văn V.

2. Về con chung: Giao cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Phạm Văn K, sinh ngày 22/01/2012, Phạm Ngọc H1, sinh ngày 23/8/2015, Phạm Hoàng A, sinh ngày 27/01/2020 và Phạm Ngọc N1, sinh ngày 27/01/2020. Anh V cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu hằng tháng là 1.000.000đ (Một triệu đồng). Thời điểm cấp dưỡng từ tháng 12/2022 cho đến khi các cháu thành niên.

Anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Cao Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, theo biên lai số AA/2021/0000250 ngày 05/9/2022. Chị H đã nộp đủ tiền án phí.

Anh Phạm Văn V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị H, anh V. Chị H, anh V có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Khoản tiền cấp dưỡng nuôi con được thi hành ngay, mặc dù bản án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ