vanban.org

Bản án 87/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Lê K.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Lê K được ly hôn với ông Phạm Quốc T. Về con chung: Giao con chung Phạm Ngọc T3, sinh ngày 03/10/2014 cho bà Nguyễn Lê K trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn giữa bà Nguyễn Lê K với ông Phạm Quốc T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Lê K.
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28-7-2022
V/v: “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Quyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phước

Ông Trịnh Sâm Châu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành: Bà Lê Thị Hồng Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 245/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 111/2022/HNGĐ-ST ngày 04/7/2022, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Lê K, sinh năm 1992.

Địa chỉ: tổ 9, khu 2, ấp 7, xã A, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Phạm Quốc T, sinh năm 1993.

Hộ khẩu thường trú: khu vực T, phường T1, quận T2, Thành phố Cần Thơ.

Địa chỉ tạm trú: tổ 9, khu 2, ấp 7, xã A, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

(Đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Lê K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông T tự nguyện đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận kết hôn số 29/2013, quyển số 01/2013 ngày 15/3/2013.

Sau khi kết hôn chúng tôi chúng tôi sống hạnh phúc thời gian đầu, nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong quá trình chung sống vợ chồng có nhiều bất đồng trong quan điểm sống. Mặc dù đã nhiều lần tự hòa giải và được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng chúng tôi vẫn không giải quyết được.

Đến nay tôi nhận thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, hôn nhân lâm vào bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Tôi đã không còn tình cảm với ông T, hai người đã sống ly thân; nên tôi yêu cầu Toà án giải quyết cho tôi ly hôn với ông Phạm Quốc T.

Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là Phạm Ngọc T3, sinh ngày 03/10/2014. Ly hôn tôi yêu cầu được nuôi dưỡng con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tôi yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con số tiền 1.500.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

- Bị đơn ông Phạm Quốc T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến làm việc, tham gia phiên họp công khai chứng cứ, phiên hòa giải, phiên tòa nhưng ông T đều vắng mặt nên không có lời khai.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Lê K.

+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Lê K được ly hôn với ông Phạm Quốc T.

+ Về con chung: Giao con chung Phạm Ngọc T3, sinh ngày 03/10/2014 cho bà Nguyễn Lê K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục sau ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con: chấp nhận yêu cầu của bà K, buộc ông T cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

+ Về án phí: Bà K phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Lê K có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Phạm Quốc T được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà K và ông T.

Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn” quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Lê K và bị đơn ông Phạm Quốc T tự nguyện đăng ký kết hôn, được UBND xã A, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 29/2013, quyển số 01/2013 ngày 15/3/2013. Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, xác định hôn nhân giữa bà Nguyễn Lê K và ông Phạm Quốc T là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn bà Nguyễn Lê K khởi kiện yêu cầu ly hôn với lý do tình trạng hôn nhân giữa bà và ông T là trầm trọng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng trong quan điểm sống; hai người đã sống ly thân. Bà K xác định không còn tình cảm với ông T và yêu cầu xin ly hôn với ông T.

Tòa án đã xác minh tại địa phương (xã A, huyện Long Thành) về việc cư trú của ông T và tình trạng hôn nhân của bà K, ông T, kết quả như sau: Ông Phạm Quốc T đang tạm trú tại tổ 9, khu 2, ấp 7, xã A, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Về mâu thuẫn vợ chồng bà K, ông T thì địa phương không rõ. Hiện này bà K và ông T đã ly thân và không còn chung sống với nhau.

Bị đơn ông Phạm Quốc T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến làm việc, tham gia phiên họp công khai chứng cứ, phiên hòa giải, phiên tòa nhưng ông T đều vắng mặt, cũng không có ý kiến phản hồi về các nội dung theo đơn khởi kiện của nguyên đơn. Điều này cho thấy ông T không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân với bà K nữa, không có thiện chí hòa giải để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau. Do ông T không đến tham gia tố tụng tại Tòa án, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Theo tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án xác định tình trạng hôn nhân giữa bà K và ông T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Lê K về việc xin ly hôn với ông Phạm Quốc T.

Về con chung:

Bà K và ông T có 01 con chung là Phạm Ngọc T3, sinh ngày 03/10/2014. Theo lời khai của bà K và xác nhận của chính quyền địa phương thì hiện nay bà K đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Cháu Phạm Ngọc T3 có nguyện vọng được sống với bà K.

Ông Phạm Quốc T không đến Tòa án tham gia tố tụng; không có ý kiến, yêu cầu gì về con chung, từ đó cho thấy ông T không có thiện chí hòa giải về vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không có nguyện vọng nuôi con chung. Do vậy có cơ sở để giao con chung cho bà K nuôi dưỡng.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét quyết định giao cháu Phạm Ngọc T3 cho bà Nguyễn Lê K tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: bà K yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng. Hội đồng xét xử xét thấy, mức yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con chung của bà K là tương đối thấp, chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà K, buộc ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 1.500.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà K xác định không có tài sản chung và không có nợ chung. Mặt khác do chưa có lời khai của ông Phạm Quốc T, nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Lê K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình theo quy định.

Ông Phạm Quốc T phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 91, 147, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 9, Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Lê K.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Lê K được ly hôn với ông Phạm Quốc T.

2. Về con chung: Giao con chung Phạm Ngọc T3, sinh ngày 03/10/2014 cho bà Nguyễn Lê K trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Phạm Quốc T có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở ông T thực hiện quyền này.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Phạm Quốc T phải cấp dưỡng nuôi con chung là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng)/tháng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán thì hàng tháng còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Vì quyền lợi của con chung chưa thành niên, các bên được quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Lê K phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình. Số tiền 300.000đ tạm ứng án phí bà K đã nộp, theo Biên lai thu số 0005480 ngày 21/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành được trừ vào tiền án phí bà K phải chịu. Bà K đã nộp xong.

Ông Phạm Quốc T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình về cấp dưỡng nuôi con.

5. Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

- Đương sự;

- VKSND huyện Long Thành;

- Chi cục THADS huyện Long Thành;

- UBND xã, phường nơi đăng ký kết hôn;

- Lưu.

Phạm Ngọc Quyền

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Phước

Trịnh Sâm Châu

Phạm Ngọc Quyền

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ