vanban.org

Bản án 87/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Bà N được ly hôn ông V.

Về con chung: Giao các con chung tên là: T, sinh ngày 04/12/2004; B, sinh ngày 20/9/2006 và L, sinh ngày 20/9/2008 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc ông V cấp dưỡng nuôi các con số tiền: 1.000.000đ/tháng/con (Một triệu đồng/tháng/con). Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 09/2022 đến khi chấm dứt ngh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Bà N được ly hôn ông V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 9 - 2022
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tuyển, bà Phan Thị Liên.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thoang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Tây Hòa tỉnh Phú Yên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 18/2022/TLST-HNGĐ ngày 09/02/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 74/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/8/2022, giữa:

- Nguyên đơn: N, sinh năm 1987; Nơi ĐKNKTT: Thôn M, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên; Tạm trú: Thôn B, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên.

- Bị đơn: V, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn M, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên.

(Nguyên đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn N trình bày:

- Quan hệ hôn nhân: Bà N và ông V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng

ký kết hôn tại UBND xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên. Trong quá trình chung sống, có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường cãi nhau, ông V thường đánh bà N, có lúc đánh bà N vỡ xoang mũi phải nhập viện điều trị. Từ tháng 9/2020, sau khi bị ông V đánh phải đi bệnh viện điều trị thương tích thì bà N và các con về phía bà N (Thôn B, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên) sinh sống. Từ đó, hai bên tự bỏ mặc nhau, không ai còn quan tâm đến ai. Bà N nhận thấy tình cảm đã hết nên xin được ly hôn ông V.

- Về con chung: Có 03 con tên là: T, sinh ngày 04/12/2004; B, sinh ngày

20/9/2006 và L, sinh ngày 20/9/2008, lâu nay đang sống cùng bà Nguyệt. Bà N xin tiếp tục nuôi con, yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con số tiền 1.000.000đ/tháng/con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, không yêu cầu gì khác.

* Bị đơn V đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không nộp bản ý kiến,

không đến Tòa nên không tiến hành hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra

tại phiên toà, trên cơ sở xem xét ý kiến trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã

được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt. Áp dụng Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà N, ông V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có

đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên vào ngày 04/10/2007 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng bà N, ông V sinh sống một thời gian thì xảy ra

mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, có lúc ông V đánh bà N phải nhập viện điều trị. Sự việc kéo dài, hai bên tự xa nhau từ tháng 9/2020 đến nay, không ai còn quan tâm đến ai. Bà N có cung cấp một số chứng từ về việc bà N bị vỡ xương mũi phải điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên từ ngày 31/8/2020 đến ngày 07/9/2020.

Các con của ông V, bà N khai trong quá trình chung sống, bà N, ông V

thường xuyên cãi nhau, có lúc ông V đánh bà N phải đi bệnh viện điều trị thương tích. Ban nhân dân thôn M, xã S xác nhận bà N, ông V có mâu thuẫn là sự thật. Mặt khác, ông V đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa, không có ý kiến gì phản bác lại yêu cầu xin ly hôn của bà N.

Như vậy, đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa bà N, ông V đã thực sự trầm

trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N.

Về con chung: Xét thấy các con chung lâu nay đang do bà N nuôi

dưỡng, đã quen sống cùng bà N và các cháu đều có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng bà N nên để các cháu T, B, L phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần, cần chấp nhận yêu cầu của bà N: Giao cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng các con chung: T, B, L.

Về cấp dưỡng nuôi con: Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định người

không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Ông V làm nghề nông, có sức khỏe có khả năng cấp dưỡng nuôi con và mức cấp dưỡng 1.000.000đ/tháng/con mà bà N yêu cầu là phù hợp nên chấp nhận: Buộc ông V cấp dưỡng nuôi con số tiền: 1.000.000đ/tháng/con (Một triệu đồng/tháng/con). Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 09/2022 đến khi chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Về tài sản chung: Đương sự thống nhất không yêu cầu giải quyết nên

không xét.

Về án phí DSST: Bà N phải chịu án phí về yêu cầu xin ly hôn: 300.000

đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ông V phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Bà N được ly hôn ông V.

2. Về con chung: Giao các con chung tên là: T, sinh ngày 04/12/2004; B, sinh

ngày 20/9/2006 và L, sinh ngày 20/9/2008 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc ông V cấp dưỡng nuôi các con số tiền: 1.000.000đ/tháng/con (Một triệu đồng/tháng/con). Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 09/2022 đến khi chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Ông V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà N phải chịu án phí về yêu cầu

xin ly hôn: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu tiền số 0002196 ngày 09/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Như vậy, bà N đã nộp xong án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Ông V phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con: 300.000 đồng (Ba trăm

nghìn đồng).

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15

ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ