- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Lương Thị T và anh Trương Văn H."
- Tòa quyết gì? thư ng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án, xử:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2022/HNGĐ-ST Ngày 21/7/2022 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hà Văn Đông
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Thanh.
2. Ông Lương Văn Công.
- Thư ký phiên toà: Bà Sầm Thị Thanh Sương - Thư k T a án nh n d n huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Lĩnh – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở T a án nh n dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nh n và gia đình thụ l số: 53/2022/TLST – HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lƣơng Thị T, sinh năm 1998. Nơi ĐKHKTT: Xóm Q, xã LH, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Trú tại: Xóm X, xã YH, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)
2. Bị đơn: Anh Trƣơng Văn H, sinh năm 1995. Nơi ĐKHKTT: Xóm Q, xã LH, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hiện đang chấp hành biện pháp xử l hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc” tại Cơ sở cai nghiện ma túy số M tỉnh Nghệ An – xã Đ, huyện N, tỉnh Nghệ An. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/5/2022 và qua l i khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên t a, nguyên đơn là chị Lương Thị T trình bày:
Chị Lương Thị T đăng k kết hôn với anh Trương Văn H vào ngày 19/12/2016 tại Ủy ban nh n d n xã LH, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được một th i gian thì bắt đầu nảy sinh m u thuẫn, nguyên
1
nhân dẫn đến m u thuẫn do anh H không tu chí làm ăn, chỉ ham chơi, tụ tập bạn bè, dẫn đến sa vào tệ nạn xã hội nghiện chất ma túy và bị đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc, mặc dù gia đình và chị T đã khuyên nhủ nhiều nhưng anh H không có sự thay đổi, nhận thấy cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc và tương lai, tình cảm giữa vợ chồng không c n, nên chị T yêu cầu được giải quyết ly hôn đối với anh Trương Văn H.
Về con chung: Trong th i gian chung sống với nhau, giữa vợ chồng có 01 ngư i con chung tên là Trương Thị Diễm M, sinh ngày 20/02/2017, bản thân anh H hiện đang bị áp dụng biện pháp xử l hành chính đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số M tỉnh Nghệ An – xã Đ, huyện N, tỉnh Nghệ An, không đủ điều kiện để chăm lo cho con chung, giải quyết ly hôn chị T yêu cầu giao con chung cho chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng, chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lương Thị T không yêu cầu T a án giải quyết.
- Ý kiến của bị đơn anh Trương Văn H trình bày trong bản tự khai, biên bản lấy l i khai như sau:
Giữa anh H và chị T tổ chức đăng k kết hôn với nhau vào ngày 19/12/2016 tại Ủy ban nh n d n xã LH, huyện Q, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Trong th i gian sống chung giữa vợ chồng có xảy ra nhiều m u thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, cuộc sống gia đình không có hạnh phúc, nguyên nh n do lỗi của anh H không làm chủ được mình, sa ngã vào tệ nạn dẫn đến nghiện chất ma túy, chị T không chấp nhận tha thứ nên xin được giải quyết ly hôn, bản th n anh H nhận thấy không thể níu kéo được tình cảm vợ chồng để đoàn tụ nên đống giải quyết ly hôn với chị T.
Vợ chồng có 01 ngư i con chung tên là Trương Thị Diễm M, sinh ngày 20/02/2017, do hiện tại anh H đang phải chấp hành biện pháp cai nghiện ma túy bắt buộc, nên giải quyết ly hôn anh H đồng giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh H.
Đối với phần tài sản chung và nợ chung của vợ chồng, hai bên không có tranh chấp gì nên anh H không yêu cầu T a án giải quyết.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nh n d n huyện Quỳ Hợp tại phiên t a:
Qua kiểm sát giải quyết vụ án từ khi thụ l vụ án cho đến trước khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên t a thấy r ng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư k , nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng d n sự, quá trình hỏi và tranh luận tại phiên t a đã tu n thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng d n sự. Nguyên đơn có mặt tham gia giải quyết vụ việc theo giấy triệu tập, tu n thủ đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật
2
Tố tụng d n sự. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn hiện đang phải chấp hành biện pháp XLHC đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc nên không thực hiện được đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định và có đơn xin được giải quyết vắng mặt, do đó cần xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 51; 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nh n và gia đình; Điều 28; 35; 39; khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng d n sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án, để xét xử.
Về quan hệ hôn nh n cần chấp nhận đơn khởi kiện, cho chị Lương Thị T được ly hôn với anh Trương Văn H.
Giao con chung Trương Thị Diễm M, sinh ngày 20/02/2017 cho chị Lương Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trương Văn H, việc giao nuôi con cần được thực hiện kể từ tháng 8 năm 2022 trở đi cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm gặp con, không ai được cản trở.
Giữa hai bên không có tranh chấp và yêu cầu T a án giải quyết về phần tài sản chung và nợ chung, nên đề nghị không xem xét giải quyết.
Buộc nguyên đơn phải chịu tiền án phí d n sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn có mặt không có kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên t a, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Lương Thị T có đơn yêu cầu giải quyết xin ly hôn đối với anh Trương Văn H, đề nghị giao con chung cho chị T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần tài sản chung của vợ chồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 luật Hôn nh n và gia đình và khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng d n sự, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Bị đơn anh Trương Văn H có nơi đăng k hộ khẩu thư ng trú tại xóm Q, xã LH, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của T a án nh n d n huyện Q, tỉnh Nghệ An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng d n sự. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định, bị đơn hiện đang bị áp dụng biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, do đó vụ án thuộc trư ng hợp không tiến hành h a giải được theo Điều 207 Bộ luật tố tụng d n sự. Bị
3
đơn có đơn xin được giải quyết vắng mặt tại các buổi làm việc và phiên tòa của T a án, do đó cần áp dụng Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng d n sự để xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị T và anh Trương Văn H đăng k kết hôn vào ngày 19 tháng 12 năm 2016 tại U ban nh n d n xã LH, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân giữa hai bên hoàn toàn tự nguyện, đảm bảo về điều kiện kết hôn và đăng k đúng thủ tục quy định của pháp luật, nên quan hệ hôn nhân giữa hai bên là hợp pháp. Sau khi kết hôn chung sống một th i gian vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H sa vào tệ nạn xã hội, nghiện chất ma túy, chị T xác định cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, không có tương lai, vợ chồng đã sống ly th n. Trong quá trình giải quyết vụ án và xác minh tại địa phương về m u thuẫn vợ chồng cho thấy, giữa hai bên có nhiều m u thuẫn không thể h a giải đoàn tụ được, quá trình lấy l i khai, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị T giữ nguyên kiến kiên quyết xin được ly hôn đối với anh Trương Văn H và anh H có ý kiến đồng giải quyết ly hôn với chị T. Xét thấy, m u thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm tr ng, đ i sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nh n không đạt được, vợ chồng có kiến thống nhất không quay trở lại đoàn tụ với nhau. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lương Thị T đối với anh Trương Văn H.
Về con chung: Qua xem xét tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp, xác minh về hoàn cảnh, môi trư ng sống và khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con, cũng như kiến của các đương sự, xét thấy hiện tại anh H đang trong th i gian chấp hành biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc, con chung đang c n nhỏ cần sự gần gũi, chăm sóc, nuôi dưỡng của ngư i mẹ nên xem xét giao con chung Trương Thị Diễm M, sinh ngày 20/02/2017 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trương Văn H là hợp tình, hợp l . Việc giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cần được thực hiện kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lương Thị T và anh Trương Văn H có ý kiến thống nhất không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí d n sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; các điều 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
4
thư ng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị T được ly hôn anh Trương Văn H.
2. Về con chung: Giao con chung Trương Thị Diễm M, sinh ngày 20/02/2017 cho chị Lương Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trương Văn H, việc giao con chung cho chị Lương Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng được thực hiện kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Lương Thị T chịu án phí d n sự sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ trong số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0006851 ngày 23/5/2022 tại Chi cục thi hành án d n sự huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳ Hợp; - Chi cục THADS huyện Quỳ Hợp; - UBND xã LH, huyện Q; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; Hội thẩm nhân dân Lê Văn Thanh - Lƣơng Văn Công | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Hà Văn Đông HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa 5 Hà Văn Đông 6 7 |