- Tranh chấp gì? án hình sự — "tt hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Giao các bị cáo Ngô Văn C, Ngô Văn Đ cho UBND xã Xuân Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách án treo
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊNTHÀNH TỈNH NGHỆ AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2021/HSST Ngày 29 - 7 - 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Lệ Lan- nghề nghiệp: giáo viên trường THPT Phan Đăng Lưu, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
Bà Phan Thị Quế- Phòng giáo dục huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Thanh Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: ông Hồ Văn Nam- Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2021/HSST, ngày 13 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Ngô Văn C - sinh ngày 15 tháng 9 năm 1982 tại xã Xuân Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm Tân Xuân, xã Xuân Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Đức Chẩm và bà Thái Thị Hường; vợ: Thái Thị Thủy và 3 con; Tiền án, tiền sự: không. Tạm giữ: từ ngày 08/01/2021 – 17/01/2021, bị cáo tại ngoại, có mặt.
2. Phan Hoàng L- sinh ngày 12/10/2003 tại Thị trấn Yên Thành, huyện Yên Thành. Nơi cư trú: khối 1 thị trấn Yên Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An ; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa 11/12; dân tộc kinh; giới tính: nam, tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Nghĩa và bà Hoàng Thị Hiền; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Tạm giữ, tạm giam: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt 3. Vũ Trọng L- sinh ngày 9/5/2002 tại xã Tăng Thành, huyện Yên Thành; nơi cư trú: xóm 4 xã Tăng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh, giới tính:nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Trọng Oanh và bà Nguyễn Thị Thuận; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Tạm giữ từ ngày 8/01/2021 đến ngày 17/01/2021, bị cáo tại ngoại có mặt
4. Ngô Văn Đ- sinh ngày 7/11/2003 tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm 3 xã Xuân Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nghề nghiêp: lao động tự do; trình độ văn hóa 9/12; dân tộc: kinh, giới tính: nam, tôn giáo: không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn Dân và bà Nguyễn Thị Dung; vợ con: chưa có, tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt
Người bào chữa cho bị cáo Phan Hoàng L, bị cáo Ngô Văn Đ
Bà Phan Thị Thanh- Trợ giúp viên pháp lý thuộc chi nhánh số 1- trung tâm trợ
giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An Ngƣời đại diện theo pháp luật của bị cáo Phan Hoàng L:
Bà Hoàng Thị H (mẹ đẻ bị cáo)
Địa chỉ:khối 1 thị trấn Yên Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
Ngƣời đại diện theo pháp luật của bị cáo Ngô Văn Đ
Ông Ngô Văn D (bố đẻ bị cáo ) Địa chỉ: xóm 3 xã Xuân Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Phan Văn N- sinh năm 1974 (vắng mặt)
Địa chỉ: khối 1 thị trấn Yên Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do quen biết với người đàn ông tên Quý ở xã Nam Thành, huyện Yên Thành
( không biết họ tên tuổi địa chỉ cụ thể) nên khi Quý muốn nhờ Phan Hoàng L mua giúp pháo nổ về phục vụ đám cưới thì Lộc đồng ý. Khoảng 18 giờ ngày 18/01/2021 Phan Hoàng L sử dụng tài khoản Messenger của mình có tên Hoàng Lộc rồi nhắn tin đến tài khoản Messenger của Vũ Trọng L có tên “ Anh Long” với nội dung” Tau có ông anh tên Quý ở xã Nam Thành cần tìm mua 7 bánh pháo hoa loại 36 quả/bánh về để cưới đem ra nổ, mi xem có chỗ mô bán pháo không ta mua giúp anh Quý” Vũ Trọng L đồng ý và trả lời” ừ để tau hỏi xem đã”. Sau đó Vũ Trọng L dùng tài khoản của mình nhắn tin vào tài khoản của Ngô Văn Đ “ Em Đức” với nội dung” Mi coi có chỗ mô bán pháo không lấy giúp tau 7 bánh pháo hoa loại 36 quả/bánh để đưa về nổ” Đức đồng ý. Sau đó Ngô Văn Đ sử dụng số điện thoại 0356479632 gọi điện vào số điện thoại 0327364634 của Ngô Văn C là chú ruột của Đức và nói nội dung “có thằng bạn nhờ mua pháo chú có không” thì Ngô Văn C trả lời “ Có” nên Đức nói” Chú để cho họ 7 bánh loại 36 quả, lấy giá 1.000.000 đông/bánh’ thì Ngô Văn C đồng ý. Sau đó Đức gửi số điện thoại của Long cho Chương để liên lạc trực tiếp với Long.Qua trao đổi Chương đồng ý bán cho Long 7 bánh pháo hoa loại 36 quả với giá 7.500.000 đồng và hẹn 19 giờ cùng ngày giao hàng tại quán cfe Kẻ Gám (Xuân Thành).Vũ Trọng L gọi điện cho Phan Hoàng L đến Long Thành để đón Long đi mua pháo, Lộc đồng ý và điều khiển xe máy mượn của bố đẻ là Phan Văn Nghĩa đi đón Long. Cả hai đến quán cafe Hello xã Nam Thành gặp Quý để lấy tiền đi mua pháo nhưng Quý chưa đến nên Long và Lộc đến quán Cafe Kẻ Gám để gặp Ngô Văn C. Tại đây ba người ngồi nói chuyện một lúc thì Phan Hoàng L một mình điều khiển xe đến quán cf Hello gạp Quý và lấy 8.000.000 đồng, Quý dặn nếu thừa thì lúc nào đưa pháo thì trả lại tiền thừa. Nhận tiền xong Phan Hoàng L quay về quán cafe Kẻ Gám đưa cho Ngô Văn C 7.500.000 đồng. Nhận được tiền, Chương điều khiển xe máy dẫn đường cho Lộc và Long đến nhà mình và nói” pháo đó, lấy đi”. Lộc và Long chở pháo về xã Nam Thành giao cho Quý và trả lại số tiền thừa 500.000 đồng. Khi Phan Hoàng L và Vũ Trọng L đi đến khu vực xóm Phan Đăng Lưu xã Nam Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An thì bị lực lượng công an huyện Yên Thành phát hiện bắt quả tang, niêm phong vật chứng và đưa đối tượng về trụ sở làm việc . Ngày 6/1/2021 cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Yên Thành tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Ngô Văn C, quá trình khám xét đã phát hiện thu giữ 4 hình hộp kích thước 14x14x12 cm có trọng lượng 5,5kg bên ngoài được bọc bởi lớp giấy bóng in chữ nước ngoài, in hình pháo hoa nổ phát sáng, bên ngoài mỗi hộp được bọc bằng hai túi ni lông màu xanh, nghi là pháo nổ. Tại cơ quan cảnh sát điều tra Ngô Văn C khai nhận đã bán cho Phan Hoàng L, Vũ Trọng L 7 bánh pháo trọng lượng 9,5kg. Số pháo cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ tại nơi ở của Chương và số pháo Chương đã bán cho Lộc và Long là Pháo mà Chương đã mua của một người đàn ông không quen biết với giá 950.000 đồng/bánh về để bán kiếm lời Tại kết luận giám định số 93/KL-PC09 ngày 16/01/2021 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nghệ An xác định: Các mẫu vật (ký hiệu M1, M2) gửi giám định đều là pháo, đều là loại pháo nổ”
Tại bản cáo trạng số 97/VKS-HS ngày 08/7/2021 của VKSND huyện Yên Thành đã truy tố Ngô Văn C về tội “ Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 190 Bộ luật hình sự, các bị cáo Vũ Trọng L, Ngô Văn Đ, Phan Hoàng L bị truy tố về tội về tội "Tàng trữ hàng cấm" quy định tại điểm c khoản 1 điều 191 BLHS.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử điểm c khoản 1 điều 190, điểm s khoản 1,2 điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Ngô Văn C 15 -18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 30-36 tháng tính từ ngày tuyên án về tội” Buôn bán hàng cấm”
Căn cứ: điểm c khoản 1 điều 191; điểm i, s, khoản 1 điều 51; khoản 1, 2 điều 65 BLHS xử phạt: Vũ Trọng L 6-7 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 -14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 191, điểm i, s khoản 1 điều 51, khoản 2 điều 51, khoản 2 điều 54, điều 90, 91 khoản 1, 2 điều 65 bộ luật hình sự xử phạt Ngô Văn Đ 4 -5 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội”tàng trữ hàng cấm”
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 191, điểm i, s khoản 1 điều 51, khoản 2 điều 54, điều 90, 91, điều 65 bộ luật hình sự xử phạt Phan Hoàng L 4-5 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội” tàng trữ hàng cấm”
Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo do có hoàn cảnh khó khăn, có 02 bị cáo đang tuổi vị thành niên.
Về vật chứng: -Tịch thu tiêu hủy số pháo còn lại sau khi đã đi giám định
-Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước: Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu
Sam Sung màu trắng trong máy có gắn thẻ sim 0327364639, máy đã qua sử
dụng của Ngô Văn C, 1 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realmy c3, màu đỏ
đen trong máy có gắn thể sim 0354794801 máy đã qua sử dụng thu giữ của Vũ
Trọng L, 01 máy điện thoại nhãn hiệu IP 7 Plus màu hồng có gắn thể sim
0926123266 máy đã qua sử dụng thu giữ của Phan Hoàng L, 01 điện thoại di
động nhãn hiệu OPPO F9 màu tím đã qua sử dụng có gắn thể sim 035479632
thu giữ của Ngô Văn Đ
Truy thu số tiền 7.500.000 của bị cáo Ngô Văn C là tiền thu lợi bất chính
Các bị cáo không có tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho hai bị cáo Ngô Văn Đ và Phan Hoàng Long trình bày: Nhất trí với bản cáo trạng truy tố các bị cáo.Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố các bị cáo Ngô Văn Đ, Phan Hoàng L “ tàng trữ hàng cấm” là đúng người đúng tội, tuy nhiên đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo ở các tình tiết sau: Các bị cáo phạm tội khi tuổi đời còn rất trẻ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy đề nghị HĐXX áp dụng các điều 91 và 91, điều 54 của BLHS để xử phạt các bị cáo Ngô Văn Đ, Phan Hoàng L ở mức 4-5 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ngoài ra đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo do các bị cáo đang ở độ tuổi vị thành niên.
Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Phan Hoàng L trình bày: Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho cháu vì cháu để cháu có cơ hội sửa chữa sai lầm, gia đình sẽ có trách nhiệm theo sát giáo dục cháu
Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Ngô Văn Đ trình bày: cháu Đức tuổi còn trẻ, thiếu hiểu biết pháp luật, lần đầu phạm tội xin HĐXX xem xét giảm nhẹ cho cháu để cháu có cơ hội được cải tạo tại địa phương, gia đình có trách nhiệm giáo dục cháu không tái phạm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ buộc tội: Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên; Viện kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Ngô Văn C, Vũ Trọng L, Ngô Văn Đ, Phan Hoàng L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 8/01/2021 tại khu vực xóm Phan Đăng Lưu, xã Nam Thành, huyện Yên Thành các bị cáo Phan Hoàng L, Vũ Trọng L đang có hành vi tàng trữ 7 bánh pháo nổ có tổng khối lượng 9,5 kg . Quá trình mở rộng điều tra đã chứng minh được Ngô Văn Đ là người giới thiệu cho Vũ Trọng L mua pháo của Ngô Văn C, vì vậy Ngô Văn Đ là đồng phạm đối với hành vi tàng trữ pháo nổ của Long và Lộc. Đối với Ngô Văn C ngoài hành vi bán 9,5 kg pháo nổ còn tàng trữ 5,5kg pháo nổ tại nhà với mục đích để bán kiếm lời. Như vậy tổng số pháo Ngô Văn C sử dụng để mua bán là 15 kg
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố bị cáo Ngô Văn C theo điểm c khoản 1 điều 190 BLHS về tội “Buôn bán hàng cấm”, các bị cáo Vũ Trọng L, Ngô Văn Đ, Phan Hoàng L bị truy tố về tội “ Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 điều 191 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước trong quản lý một số loại hàng cấm, Nhà nước cấm tàng trữ, vận chuyển, lưu thông trên thị trường. Vì thế, cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự mới có tác dụng cải tạo và phòng ngừa chung.
Xét vị trí, vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy rằng: Trong vụ án này các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn, không có người tổ chức tuy nhiên Ngô Văn C, Vũ Trọng L là những người đã đủ tuổi trưởng thành nhận thức pháp luật đầy đủ vẫn cố tình vi phạm do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Các bị cáo Ngô Văn Đ, Phan Hoàng L phạm tội khi đang ở tuổi vị thành niên nên khi lượng hình cần xem xét, áp dụng tình tiết đối với người chưa thành niên phạm tội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật
Đối với bị cáo Ngô Văn C là người mua pháo từ người khác và trực tiếp bán pháo cho Lộc và Long nhằm mục đích hưởng lợi, đồng thời còn tàng trữ 5,5 kg tại nhà với mục đích bán kiếm lời do đó số pháo Ngô Văn C sử dụng vào mua bán là 15 kg.
Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Mặt khác bị cáo có bố được tặng thưởng huy chương kháng chiến vì có thành tích phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam; đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo
Đối với bị cáo Vũ Trọng L: Vũ Trọng L tham gia trong vụ án với vai trò đồng phạm. Tình tiết giảm nhẹ: phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo tỏ thái độ ăn năn hối cải . Đây là tình tiết quy định tại các điểm i,s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự
Đối với bị cáo Phan Hoàng L và bị cáo Ngô Văn Đ: Hai bị cáo đang ở tuổi vị thành niên, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo Phan Hoàng L, bị cáo Ngô Văn Đ có ông nội, ông ngoại có thành tích trong kháng chiến được tặng thưởng huân chương. Bị cáo Ngô Văn Đ còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1 khoản 2 điều 51 bộ luật hình sự cần áp dụng khi xử lý đối với các bị cáo
Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo Ngô Văn C, Vũ Trọng L, Phan Hoàng L, Ngô Văn Đ không có tình tiết tăng nặng
Xét các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, nên không nhất thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà tiếp tục giao cho gia đình và chính quyền địa phương quản lý giám sát như đề nghị của đại diện viện kiểm sát cũng là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra phải áp dụng khoản 4 điều 191 BLHS phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo nhưng xét các bị cáo không có nghề nghiệp hay thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có hai bị cáo vị thành niên nên cần xem xét miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo
Trong vụ án này bị cáo Ngô Văn C khai số pháo đã bán cho Long và Lộc và số pháo thu giữ khi khám xét nhà của Ngô Văn C là do Chương mua của một người không biết tên tuổi vào tháng 12/2020, quá trình điều tra không xác minh được đối tượng trên do đó không có cơ sở xử lý. Phan Hoàng L khai nhận mua hộ pháo cho người đàn ông tên Quý ở xã Nam Thành tuy nhiên qua điều tra xác minh chưa làm rõ được nhân thân lai lịch do đó cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Yên Thành tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào làm rõ sẽ đề xuất xử lý sau
Về xử lý vật chứng: + Đối với 12,6 kg là số pháo còn lại đã được niêm phong theo quy định ( 8,3 kg thu giữ của Vũ Trọng L, Phan Hoàng L và 4,3 kg thu giữ tại nhà Ngô Văn C ) . Xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy + Đối với số tiền 7.500.000 đồng mà bị cáo Ngô Văn C bán pháo cho Vũ Trọng L và Phan Hoàng L, xét đây là tiền thu lợi bất chính nên cần truy thu để sung quỹ nhà nước. + Đối với: Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu trắng trong máy có gắn thẻ sim 0327364639, máy đã qua sử dụng của Ngô Văn C, 1 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realmy c3, màu đỏ đen trong máy có gắn thể sim 0354794801 máy đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Trọng L, 01 máy điện thoại nhãn hiệu IP 7 Plus màu hồng có gắn thể sim 0926123266 máy đã qua sử dụng thu giữ của Phan Hoàng L, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu tím đã qua sử dụng có gắn thể sim 035479632 thu giữ của Ngô Văn Đ . Xét đây là các công cụ phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước [5] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 190, điểm s khoản 1,2 điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Ngô Văn C 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội” Buôn bán hàng cấm”
Căn cứ: điểm c khoản 1 điều 191; điểm i, s, khoản 1 điều 51; khoản 1, 2 điều 65 BLHS xử phạt: Vũ Trọng L 7 (bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 191, điểm i, s khoản 1 điều 51, khoản 2 điều 51, điều 54, 90, 91, điều 65 bộ luật hình sự xử phạt Ngô Văn Đ 5(năm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội”tàng trữ hàng cấm”
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 191, điểm i, s khoản 1 điều 51, khoản 2 điều 51, điều 54, 90, 91, điều 65 bộ luật hình sự xử phạt Phan Hoàng L 5 (năm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội” tàng trữ hàng cấm”
Giao các bị cáo Ngô Văn C, Ngô Văn Đ cho UBND xã Xuân Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách án treo
Giao bị cáo Vũ Trọng L cho UBND xã Tăng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách án treo.
Giao bị cáo Phan Hoàng L cho UBND thị trấn Yên Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách án treo
Gia ®×nh các bÞ c¸o cã tr¸ch nhiÖm phèi hîp víi chÝnh quyÒn ®Þa ph ¬ng trong viÖc gi¸m s¸t, gi¸o dôc các bÞ c¸o.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong tr êng hîp ng êi ® îc h ëng ¸n treo thay ®æi n¬i c tró th× thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i điều 92 LuËt thi hµnh ¸n h×nh sù.
[2]Vật chứng: Căn cứ khoản 1, điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 điều 106 BLTTHS + Truy thu tại bị cáo Ngô Văn C số tiền 7.500.000 là tiền bán pháo cho Lộc và Long + Tịch thu tiêu hủy 12,6 kg là số pháo còn lại đã được niêm phong theo quy định ( 8,3 kg thu giữ của Vũ Trọng L, Phan Hoàng L và 4,3 kg thu giữ tại nhà Ngô Văn C ) (Số pháo nêu trên hiện đang tạm gửi tại kho tang vật của Công an huyện Yên Thành. Công an huyện Yên Thành có trách nhiệm chuyển giao cho Chi cục Thi hành án huyện Yên Thành khi án có hiệu lực pháp luật để Chi cục Thi hành án huyện Yên Thành tiêu hủy theo quy định). + Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước :Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu trắng trong máy có gắn thẻ sim 0327364639, máy đã qua sử dụng của Ngô Văn C, 1 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realmy c3, màu đỏ đen trong máy có gắn thể sim 0354794801 máy đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Trọng L, 01 máy điện thoại nhãn hiệu IP 7 Plus màu hồng có gắn thể sim 0926123266 máy đã qua sử dụng thu giữ của Phan Hoàng L, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu tím đã qua sử dụng có gắn thể sim 035479632 thu giữ của Ngô Văn Đ .
(Vật chứng hiện chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh
Nghệ An theo phiếu nhập kho NK 121 ngày 13/7/2021) [3] Án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc các bị cáo Ngô Văn C, Ngô Văn Đ, Vũ Trọng L, Phan Hoàng L mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Công an YT - Viện kiểm sát YT - Viện kiểm sát Tỉnh - Sở tư pháp NA - Tòa án Tỉnh - THA hình sự; - THA Dân sự; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, lưu VP. | Dƣơng Thị Hiền |