- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố Hoàng Văn L và Nguyễn Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2021/HSST Ngày: 12/7/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Minh Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Sách
Bà Nguyễn Thị Chung
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quốc Huy – Thư ký TAND huyện Quế Võ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Kim Phụng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2021, tại TAND huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 109/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2021/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Hoàng Văn L, sinh năm 1999;
HKTT: xóm Nà Tẩư, xã Cai Bộ, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Dũng và bà Nông Thị Nhung; vợ, con: chưa có; tiền án, nhân thân: không;
Tiền sự: Ngày 19/11/2020 bị Công an phường Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/3/2021 đến nay. Có mặt.
2. Nguyễn Đức T, sinh năm 2002;
HKTT: thôn Cây Thị, xã Ôn Lương, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức Thìn và bà Đặng Thị Hiền; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/3/2021 đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Đông Giang, sinh năm 1996; Địa chỉ: thôn Ngoài, xã Mỹ Hà, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nông Thị Nhung, sinh năm 1977; Địa chỉ: xóm Nà Tẩu, xã Cai Bộ, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.
2. Bà Đặng Thị Hiền, sinh năm 1976; Địa chỉ: thôn Cây Thị, xã Ôn Lương, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 12/3/2021, Nguyễn Đức T đến thôn Mao Dộc, xã Phượng Mao, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh thuê trọ tại khu nhà trọ của ông Phạm Ngọc Bẩy. Khoảng 11 giờ cùng ngày Hoàng Văn L cùng một thanh niên tên Tuân ở Cao Bằng (L và T không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của Tuân ở đâu) đến phòng trọ của T chơi và ngủ qua đêm tại đó. Sáng ngày 13/3/2021, L và Tuân sau khi đi ăn về đến cửa phòng trọ của anh Nguyễn Đông Giang thì Tuân nói với L: “phòng này có máy tính, vào lấy đi” (ý rủ L vào phòng trọ của anh Giang trộm cắp máy tính), L nói “em không dám đâu”, Tuân tiếp tục nói: “Thế xuống gọi taxi để tý đi bán” (ý là bán máy tính trộm cắp), L đồng ý rồi đi vào trong phòng trọ của T. Lúc này, T đang ở trong phòng thì Tuân gọi T ra cửa phòng nói: “đi lấy máy tính đi”, (T hiểu ý Tuân bảo T đi trộm cắp máy tính), T đồng ý và bảo L đi gọi xe taxi. L đi xuống cổng gọi xe taxi đợi sẵn. T quay sang hỏi Tuân: “máy tính ở đâu” thì thấy Tuân đi đến phòng trọ của anh Giang(T biết Tuân đến phòng trọ của anh Giang để trộm cắp tài sản), T đứng ngoài hành lang tầng 3 cảnh giới còn Tuân lấy chùm chìa khóa trong túi quần mở cửa phòng của anh Giang vào lấy 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 5559 màu xám bạc cùng dây sạc máy tính, rồi mang ra khỏi phòng đưa cho T. T giấu máy tính ở trong áo khoác rồi cùng Tuân đi ra lên xe taxi mà L đang đợi. Sau đó, cả ba đi đến quán cầm đồ 98 của anh Nguyễn Đình Định ở thôn Mao Dộc, xã Phượng Mao, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Khi đến nơi, L và T cầm máy tính xách tay và dây sạc máy tính vào quán đưa cho anh Hoàng Quốc Phong là nhân viên của quán để anh Phong kiểm tra, còn Tuân ra quán internet cạnh đó ngồi chơi. Sau khi xem máy tính xong, anh Phong nói máy cầm được 2.200.000 đồng, T và L đồng ý rồi nhận tiền của Phong. T cầm tiền đi ra ngoài gặp L và Tuân rồi cả ba lên xe taxi đi chơi. Trên xe taxi T đưa cho L 1.200.000 đồng, Tuân 500.000 đồng còn T giữ lại 500.000 đồng. Số tiền trên T và L đã tiêu xài cá nhân hết. Đến 16h20’ cùng ngày anh Giang về phòng phát hiện kẻ gian phá khóa cửa trộm cắp 01 (một) máy tính xách tay nên đã đến Công an huyện Quế Võ trình báo. Ngày 14/3/2021 anh Hoàng Quốc Phong tự nguyện giao nộp cho Công an huyện Quế Võ 01 máy tính laptop nhãn hiệu Dell Inspiron 5559 màu xám bạc và dây sạc máy tính do T và L mang đến cầm cố.
Ngày 14/3/2021 và 25/3/2021, L và T đã đến Công an huyện Quế Võ đầu thú.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 15/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quế Võ kết luận: “Máy tính laptop nhãn hiệu Dell Inspiron 5559 màu xám bạc, mua mới tháng 9/2017 tại thời điểm định giá tháng 3/2021 có giá là 5.000.000 đồng”.
Với nội dung trên, bản Cáo trạng số 72/CT-VKSQV ngày 26/5/2021 của VKSND huyện Quế Võ đã truy tố Hoàng Văn L và Nguyễn Đức T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa L và T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị HĐXX tuyên bố Hoàng Văn L và Nguyễn Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Điều 38 BLHS:
- Xử phạt Hoàng Văn L từ 7-10 tháng tù.
- Xử phạt Nguyễn Đức T từ 6-9 tháng tù.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với L và T.
Về trách nhiệm dân sự: Do anh Giang đã nhận lại tài sản mà các bị cáo trộm cắp và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét. Đối với số tiền bà Nhung và bà Hiền đã thay các bị cáo trả cho anh Phong, do bà Nhung, bà Hiền không yêu cầu các bị cáo phải trả lại nên không xem xét.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Các bị cáo không tranh luận gì với đại diện VKSND huyện Quế Võ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 09h ngày 13/3/2021 tại phòng trọ của anh Nguyễn Đông Giang ở thôn Mao Dộc, xã Phượng Mao, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Đức T, Hoàng Văn L cùng đối tượng tên Tuân đã có hành vi trộm cắp 01 máy tính laptop nhãn hiệu Dell Inspiron 5559 màu xám bạc trị giá 5.000.000 đồng của anh Giang. Do đó, hành vi của L và T đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng đã truy tố.
Vụ án có tính chất đồng phạm, trong đó L và T đều có vai trò giúp sức cho đối tượng tên Tuân để cùng thực hiện việc trộm cắp tài sản. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu tới tình hình trị an tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo đều là những đối tượng ham chơi, lười lao động và có tiền sử sử dụng chất ma túy, trong đó L còn có 01 tiền sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, cần có hình phạt nghiêm khắc, cách ly L, T khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt. Tuy nhiên, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu thuộc T hợp ít nghiêm trọng, đã tự nguyện ra đầu thú và thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, gia đình các bị cáo cũng tự nguyện khắc phục hậu quả cho anh Phong, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho L và T.
Về hình phạt bổ sung: Do L, T là những đối tượng không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Quá trình điều tra xác định chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Dell Inspiron 5559 màu xám bạc và dây sạc máy tính là tài sản của anh Nguyễn Đông Giang nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Võ đã trả lại cho anh Giang.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Giang đã được nhận lại tài sản do L, T trộm cắp và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì. Đối với ổ khóa cửa phòng bị phá hư hỏng nhẹ, anh Giang cũng không yêu cầu định giá và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên không xem xét.
Đối với số tiền bà Nhung và bà Hiền đã thay các bị cáo trả cho anh Phong, do bà Nhung, bà Hiền không yêu cầu các bị cáo phải trả lại nên không xem xét.
Đối với người thanh niên tên Tuân đã cùng các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp, do L và T không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của Tuân ở đâu, cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Võ tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ sẽ xem xét xử lý sau.
Đối với anh Hoàng Quốc Phong không biết chiếc máy tính mà các bị cáo mang đến cầm cố là tài sản do phạm tội mà có nên không xem xét xử lý.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố Hoàng Văn L và Nguyễn Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Xử phạt Hoàng Văn L 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2021.
- Xử phạt Nguyễn Đức T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2021.
Quyết định tạm giam L và T mỗi bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm thi hành án.
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: L và T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Quế Võ; - Công an huyện Quế Võ; - Chi cục THADS huyện Quế Võ; - Sở tư pháp tỉnh Bắc Ninh; - Bị cáo, bị hại, người có QLNVLQ; - Lưu HS, VT; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Minh Đức |