- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng TMCP V khởi kiện Trịnh Mỹ C về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V.
- Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2021/ DS-ST Ngày 11 - 5- 2021 “V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phạm Kim Cương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Trọng Tâm
Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hải – kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 521/2020/TLST - DS ngày 07 tháng 12 năm 2020 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 226/2021/QĐXXST - DS ngày 22 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V Địa chỉ: Tòa nhà C, đường Đ, phường N, quận K, thành phố Hà Nội.
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Chị Đoàn Thúy V, sinh năm 1992, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ của Ngân hàng thương mại cổ phần V chi nhánh Cà Mau (theo văn bản ủy quyền ngày 07 tháng 12 năm 2020 - có mặt).
- Bị đơn: Bà Trịnh Mỹ C, sinh năm 1983 (vắng mặt). Cư trú tại: Khóm 6, phường 9, thành phố M, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần V trình bày:
Ngày 03/01/2018 bà Trịnh Mỹ C có đề nghị vay vốn số tiền 40.000.000 đồng tại Ngân hàng thương mại cổ phần V (gọi tắt là Ngân hàng), Ngân hàng tiến hành lập hợp đồng tín dụng số HDTD 93020800037 ngày 09/01/2018, thời hạn vay 60 tháng. Lãi suất vay trong hạn 12% năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Mục đích vay là tiêu dùng. Biện pháp bảo đảm cho vay tín chấp có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường 2, thành phố Cà Mau.
Quá trình thực hiện hợp đồng phía bà Trịnh Mỹ C đã thanh toán được cho Ngân hàng tính từ ngày 09/01/2018 đến ngày 11/5/2021 số tiền gốc là 21.344.000 đồng và trả lãi 10.176.179 đồng. Bà C chậm thanh toán tiền vay gốc và lãi kể từ ngày 15/10/2020 không thực hiện việc trả nợ vay theo hợp đồng, cho nên bên vay đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ không thanh toán nợ, lãi đúng quy định. Nay Ngân hàng yêu cầu Trịnh Mỹ C thanh toán dứt điểm khoản nợ cụ thể như sau:
Tổng số tiền phải thanh toán tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 11/5/2021 là 24.536.169 đồng (trong đó nợ gốc 18.656.000 đồng, nợ lãi 5.880.169 đồng) và lãi phát sinh tính theo hợp đồng cho đến khi thi hành xong. Tại phiên tòa Ngân hàng có thay đổi một phần yêu cầu là không buộc bà C trã lãi phạt gốc và lãi phạt lãi số tiền 308.181 đồng.
Đối với bị đơn bà Trịnh Mỹ C Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản Thông báo thụ lý vụ án, thông báo mở phiên họp, kiểm tra chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập xét xử lần thứ hai nhưng phía bị đơn vắng mặt không có lý do. Đồng thời, không gửi văn bản ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã đảm bảo đúng thủ tục tố tụng theo quy định, các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 24.536.169 đồng. Án phí bị đơn phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V buộc bị đơn thanh toán tiền vay nên quan hệ tranh chấp được xác định là tranh chấp “hợp đồng vay tài sản” ; bị đơn bà Trịnh Mỹ C có nơi cư trú tại khóm 6, phường 9, thành phố M, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Trịnh Mỹ C đã được Tòa án triệu tập xét xử lần thứ hai theo đúng quy định nhưng nay tại phiên tòa bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về Nội dung tranh chấp: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản có quy định lãi suất. Đối tượng tranh chấp là hợp đồng tín dụng số HDTD 93020180037 ký ngày 09/01/2018 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V với bà Trịnh Mỹ C. Thời hạn vay 60 tháng, mục đích vay để tiêu dùng. Xét hợp đồng vay nói trên giữa 02 bên hoàn toàn tự nguyện thực hiện đúng quy định về nội dung và hình thức của hợp đồng vay tài sản, nên hợp đồng có giá trị và hợp pháp. Trong quá trình vay bà Trịnh Mỹ C đã thực hiện việc thanh toán nợ cụ thể là thanh toán tiền gốc là 21.344.000 đồng và trả lãi 10.176.179 đồng, từ ngày 15/10/2020 đến nay bà Cầm không thanh toán nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng ký kết. Tính đến ngày 11/5/2021 bà Cầm còn nợ lại số tiền là 24.536.169 đồng. Ngân hàng có nhiều lần yêu cầu thanh toán nợ nhưng bị đơn không thực hiện. Do đó, phía bị đơn đã vi phạm cam kết trả vốn và lãi. Nên phía Ngân hàng thương mại cổ phần V yêu cầu bị đơn phải trả tổng số tiền còn nợ lại tính đến ngày xét xử sơ thẩm 11/5/2021 là 24.536.169 đồng (trong đó nợ gốc 18.656.000 đồng, nợ lãi 5.880.169 đồng) và lãi phát sinh tính theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu trả nợ của phía nguyên đơn phù hợp với hợp đồng vay đã ký kết, đồng thời trong suốt quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn không đến Tòa án cũng không có văn bản hay lời khai gì thể hiện quan điểm của bị đơn về các khoản nợ vay và các khoản nợ đã thanh toán cho Ngân hàng. Vì những phân tích nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với khoản tiền nợ gốc chưa thanh toán và lãi phát sinh là phù hợp.
Đối với khoản tiền lãi phạt gốc và lãi phạt lãi là 308.181 đồng, Ngân hàng có thay đổi yêu cầu không buộc bị đơn thanh toán đối với khoản tiền lãi này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Ủy ban nhân dân phường 2, thành phố M, tỉnh Cà Mau, tại hồ sơ vay tiền của bà Trịnh Mỹ C có xác nhận của Ủy ban nhân phường 2, thành phố M về việc bà C có làm việc tại Ủy ban nhân dân phường 2, thành phố M. Đại diện Ủy ban nhân dân phường 2 xác nhận không có ký bảo lãnh cho bà C. Sau đó, bà C chuyển công tác ở đơn vị khác. Xem xét về quyền lợi và nghĩa vụ thì Ủy ban nhân dân phường 2, thành phố M không có quyền lợi và nghĩa vụ, nên Tòa án không đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Trịnh Mỹ C phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định, Ngân hàng thương mại cổ phần V không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 143, 207, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V.
Buộc bà Trịnh Mỹ C thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền nợ vay tổng cộng là: 24.536.169 đồng (trong đó nợ gốc 18.656.000 đồng, nợ lãi 5.880.169 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 11/5/2021, bà C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà bà C phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Án phí dân sự sơ thẩm bà Trịnh Mỹ C phải chịu 1.226.800 đồng (chưa nộp). Ngân hàng thương mại cổ phần V không phải nộp án phí ngày 07/12/2020 đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 477.000 đồng, tại lai thu số 0000325 được nhận lại khi án có hiệu lực.
Ngân hàng thương mại cổ phần V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Trịnh Mỹ C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; -VKSND Tp. Cà Mau; - Đương sự; - Lưu Hồ sơ; - Lưu Toà án Tp Cà Mau. | ( Đã ký) Phạm Kim Cƣơng |