vanban.org

Bản án 87/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc bà Lê Thị Minh T phải trả cho Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt số tiền 373.

Kể từ ngày 23/8/2021, người phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn theo mức lãi suất mà các bên thỏa Tận trong Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.772/2016/HĐTD ngày 10/6/2016 và Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.443/2016/HĐTD ngày 19/4/2016 cho đến khi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Buộc bà Lê Thị Minh T phải trả cho Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt số tiền 373.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TØNH B¾C GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2021/DS-ST
Ngày 23 tháng 8 năm 2021
V/V: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.

Các hổi thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Đình Tư.

2. Bà Nguyễn Thị Vượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị T Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông Đặng Đức Hùng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 8 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 65/2021/TLST-DS ngày 07 tháng 4 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2021/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt

Địa chỉ: Tòa nhà ThaiHolding, số 210 Trần Quang K, quận HK, thành phố H.

Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn Sơn - Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn Hoàng, chức vụ: Phó Trưởng phòng khách hàng và ông Nguyễn Thế M, chức vụ: Phó Trưởng phòng hỗ trợ hoạt động Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt chi nhánh B.

(Ông M có mặt)

* Bị đơn: Bà Lê Thị Minh T, sinh năm 1969

Địa chỉ: Tổ dân phố Đại Phú 2, thị trấn Vôi, huyện L, tỉnh B. (Bà T có đơn đề nghị vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp ngày 30/3/2021 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, ông Nguyễn Thế M là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Bà Lê Thị Minh T đã ký Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.722/2016/HĐTD ngày 10/6/2016 và Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.443/2016/HĐTD ngày 19/4/2016 với Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh B để vay tổng số tiền 199.000.000 đồng (Một trăm chín mươi chín triệu đồng). Mục đích vay: vay tiêu dùng; thời hạn vay cả 2 hợp đồng đều là là 60 tháng; Lãi suất theo Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.443/2016/HĐTD ngày 19/4/2016 được tính như sau: 3 tháng đầu là 16%/năm; lãi suất các tháng tiếp theo được tính theo công thức sau: Lãi suất cho vay = lãi suất tiết kiệm 13 tháng lĩnh lãi cuối kỳ + biên độ 8,0%; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Lãi suất theo Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.772/2016/HĐTD ngày 10/6/2016 được tính như sau: 3 tháng đầu là 15%/năm; lãi suất các tháng tiếp theo được tính theo công thức sau: Lãi suất cho vay = lãi suất tiết kiệm 13 tháng lĩnh lãi cuối kỳ + biên độ 7,4%; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Phương thức trả nợ: trả nợ gốc cố định, trả nợ lãi theo dư nợ thực tế; hình thức cho vay không tài sản bảo đảm. Kỳ hạn trả gốc là 60 kỳ, mỗi kỳ 01 tháng.

Từ ngày 20/09/2016, bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.772/2016/HĐTD ngày 10/6/2016. Từ ngày 20/10/2016, bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.443/2016/HĐTD ngày 19/4/2016, toàn bộ khoản nợ chuyển sang nợ quá hạn. Từ đó đến nay, Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt - Chi nhánh B đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện để bà T thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng không có kết quả. Tính đến hết ngày 02/8/2021, bà T nợ Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt tổng số tiền 411.258.688 đồng (trong đó nợ gốc: 187.450.000 đồng; nợ lãi: 223.808.688 đồng). Nay Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt yêu cầu bà T phải trả 411.258.688 đồng và toàn bộ lãi phát sinh từ ngày 03/8/2021 đến thời điểm thanh toán xong toàn bộ khoản vay theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Tại Bản tự khai ngày 29/7/2021, bị đơn bà Lê Thị Minh T trình bày: Bà đã nhận được thông báo thụ lý vụ án. Năm 2016, bà có ký Hợp đồng tín dụng số 300.722/2016/HĐTD ngày 10/6/2016 và Hợp đồng tín dụng số 300.443/2016/HĐTD ngày 19/4/2016 với Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt để đề nghị vay tiền. Sau khi ký hợp đồng, bà được Ngân hàng cho vay số tiền 199.000.000 đồng. Mục đích vay là trong hợp đồng ghi là vay tiêu dùng nhưng thực tế đây là khoản vay của cá nhân bà, thời hạn vay cả 02 hợp đồng đều là 60 tháng. Lãi suất, phương thức trả nợ theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ mà bà đã ký kết với Ngân hàng. Bà đã được Ngân hàng giải ngân đủ số tiền 199.000.000 đồng. Sau đó, bà trả tiền cho Ngân hàng được vài tháng thì gặp khó khăn nên không trả được tiếp nữa. Bà xác nhận số dư nợ như Ngân hàng khởi kiện trong Thông báo thụ lý vụ án là đúng. Về trình tự ký kết và nội dung Hợp đồng tín dụng mà bà ký kết với Ngân hàng, bà không có ý kiến gì. Bà nhất trí trả nợ cho Ngân hàng. Tuy nhiên hiện nay hoàn cảnh của bà rất khó khăn nên đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho bà trả nợ dần, mỗi tháng 2.000.000 đồng và đề nghị Ngân hàng miễn tiền lãi trên số tiền gốc mà bà còn nợ Ngân hàng.

Tại phiên tòa hôm nay:

Bà Lê Thị Minh T xin xét xử vắng mặt.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Thế M trình bày: Yêu cầu bà Lê Thị Minh T trả Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt số tiền tính đến hết ngày 22/8/2021 là 373.336.794 đồng trong đó nợ gốc là 187.450.000 đồng, nợ lãi 185.886.794 đồng và toàn bộ lãi phát sinh từ ngày 23/8/2021 đến thời điểm thanh toán xong toàn bộ khoản vay theo Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.722/2016/HĐTD ngày 10/6/2016 và Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.443/2016/HĐTD ngày 19/4/2016. Ngân hàng yêu cầu bà T thanh toán một lần đối với toàn bộ số nợ trên. Ngân hàng xin rút yêu cầu buộc bà T trả tiền lãi chậm trả lãi là 50.530.649 đồng. Ngoài ra, Ngân hàng không còn yêu cầu khởi kiện nào khác.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết đối với vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt. Buộc bà Lê Thị Minh T phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt số tiền tính đến hết ngày 22/8/2021 là 373.336.794 đồng trong đó nợ gốc là 187.450.000 đồng, nợ lãi 185.886.794 đồng và toàn bộ lãi phát sinh từ ngày 23/8/2021 đến thời điểm thanh toán xong toàn bộ khoản vay theo Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.722/2016/HĐTD ngày 10/6/2016 và Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.443/2016/HĐTD ngày 19/4/2016. Đình chỉ yêu cầu của Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt về việc buộc bà T trả tiền lãi chậm trả lãi là 50.530.649 đồng. Bà T phải chịu án phí theo qui định của pháp luật. Hoàn trả Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt bà T là đảm bảo qui định tại Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lê Thị Minh T là cá nhân không có giấy phép đăng ký kinh doanh, ký kết Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.722/2016/HĐTD ngày 10/6/2016 và Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.443/2016/HĐTD ngày 19/4/2016 để vay tiền Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt nhằm mục đích chi tiêu cá nhân, thời hạn vay là 60 tháng. Từ ngày 20/09/2016, bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.772/2016/HĐTD . Từ ngày 20/10/2016, bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.443/2016/HĐTD nên toàn bộ khoản vay của bà T chuyển sang nợ quá hạn. Các bên không tự giải quyết được tranh chấp nên ngày 30/3/2021 Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt khởi kiện ra Tòa án, yêu cầu bà T thanh toán nợ trước hạn, phù hợp với thỏa Tận tại Điều 7, Điều 10 trong các Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng. Việc khởi kiện của Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật dân sự, Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố B thụ lý, giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, lời khai của nguyên đơn, bị đơn đủ cơ sở xác định: Bà Lê Thị Minh T đã ký hợp đồng tín dụng số Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.722/2016/HĐTD ngày 10/6/2016 và Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.443/2016/HĐTD ngày 19/4/2016 với Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Bưu điện Liên Việt-Chi nhánh B để vay số tiền 199.000.000 đồng (Một trăm chín mươi chín triệu đồng), mục đích vay: vay tiêu dùng; thời hạn vay cả 2 hợp đồng đều là là 60 tháng. Lãi suất theo Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.443/2016/HĐTD ngày 19/4/2016 được tính như sau: 3 tháng đầu là 16%/năm; lãi suất các tháng tiếp theo được tính theo công thức sau: Lãi suất cho vay = lãi suất tiết kiệm 13 tháng lĩnh lãi cuối kỳ + biên độ 8,0%; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất theo Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.772/2016/HĐTD ngày 10/6/2016 được tính như sau: 3 tháng đầu là 15%/năm; lãi suất các tháng tiếp theo được tính theo công thức sau: Lãi suất cho vay = lãi suất tiết kiệm 13 tháng lĩnh lãi cuối kỳ + biên độ 7,4%; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Phương thức trả nợ: trả nợ gốc cố định, trả nợ lãi theo dư nợ thực tế; hình thức cho vay không tài sản bảo đảm. Kỳ hạn trả gốc là 60 kỳ, mỗi kỳ 01 tháng. Hình thức cho vay không tài sản bảo đảm. Toàn bộ số tiền vay, bà T đã sử dụng trang trải nợ cá nhân. Từ ngày 20/09/2016, bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.772/2016/HĐTD ngày 10/6/2016; từ ngày 20/10/2016, bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.443/2016/HĐTD ngày 19/4/2016, toàn bộ khoản nợ chuyển sang nợ quá hạn theo Điều 5 các Hợp đồng tín dụng trên và phải có nghĩa vụ thanh toán nợ trước hạn theo thỏa Tận tại Điều 7, Điều 9 trong các Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Tính đến hết ngày 22/8/2021, bà T còn nợ Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt tổng số tiền số tiền 373.336.794 đồng trong đó nợ gốc là 187.450.000 đồng, nợ lãi 185.886.794 đồng. Căn cứ Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà T trả nợ Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt số tiền tính đến hết ngày 22/8/2021 là 373.336.794 đồng và toàn bộ lãi quá hạn từ ngày 23/8/2021 đến thời điểm thanh toán xong toàn bộ khoản vay theo Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.772/2016/HĐTD ngày 10/6/2016 và Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.443/2016/HĐTD ngày 19/4/2016.

Về yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bà T trả tiền lãi chậm trả lãi là 50.530.649 đồng: Do đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút yêu cầu tại phiên tòa nên cần đình chỉ giải quyết yêu cầu này.

Về án phí: Yêu cầu của Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt được chấp nhận nên bà T phải chịu án phí dân sự theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Hoàn trả Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt số tiền tạm ứng án phí đã nộp

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 95, Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 227; Điều 228; Điều 244; Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273; của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử:

1. Buộc bà Lê Thị Minh T phải trả cho Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt số tiền 373.336.794 đồng trong đó nợ gốc là 187.450.000 đồng, nợ lãi 185.886.794 đồng.

Kể từ ngày 23/8/2021, người phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn theo mức lãi suất mà các bên thỏa Tận trong Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.772/2016/HĐTD ngày 10/6/2016 và Hợp đồng tín dụng kiêm Khế ước nhận nợ số 300.443/2016/HĐTD ngày 19/4/2016 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa Tận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà người phải thi hành án phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Đình chỉ giải quyết yêu cầu của Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt về việc buộc bà T phải trả 50.530.649 đồng tiền lãi chậm trả lãi.

3. Về án phí: Bà T phải chịu 18.666.900 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt tổng số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.916.000 đồng theo biên lai số 0001014 ngày 07/4/2021 và biên lai số AA/2018/0002101 ngày 11/5/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh B.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ