- Tranh chấp gì? án hình sự — "A - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo A phạm tội trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 87/2020/HS-ST Ngày 09-4-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Văn Nhung
2. Ông Từ Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2020 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 85/2020/HSST ngày 25 tháng 02 năm 2020, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 99/2020/QĐXXST-HS ngày 23/3/2020; quyết định hoãn phiên tòa số 74/2020/QĐST-HS ngày 07/4/2020 đối với bị cáo:
A, sinh năm 1986 tại tỉnh Nghệ An; thƣờng trú: Số 174, khối 9, phƣờng N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 3/12; con ông Nguyễn Hồng T (đã chết) và con bà Đinh Thị L, sinh năm: 1948; có 04 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1974, nhỏ nhất sinh năm 1986; có 01 con sinh năm 2015; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định số 03/2017/QĐ-TA ngày 21/02/2017 của Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Nghệ An áp dụng biện pháp đƣa đi cai nghiện tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội I, tỉnh Nghệ An thời hạn 12 tháng, đến cuối tháng 12/2017 thì chấp hành xong; bị tạm giam ngày 05/12/2019; có yêu cầu giải quyết vắng m t.
- Bị hại: Anh Bùi Văn Đ, sinh năm 2000; thƣờng trú: Thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; tạm trú: 171/58 khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; vắng m t.
- Người chứng kiến: Ông Cao Thanh D, sinh năm 1997, vắng m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 13 giờ ngày 05/12/2019, A đi đến dãy trọ địa chỉ 171/58, khu phố B, phƣờng A, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dƣơng, A nhìn thấy 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen trắng, số khung: C6K0GY333905, số máy: 5C6K333913, biển số 38K1 - 377.43 của anh Bùi Văn Đ, không khóa cổ, đang dựng trong hành lang dãy trọ nên tiếp cận xe rồi sử dụng cây đoản bằng kim loại hình chữ T v n ổ khóa làm sáng đèn nguồn. Sau đó, A đẩy xe mô tô biển số 38K1 - 377.43 ra bên ngoài, nổ máy, điều khiển xe đi về hƣớng phƣờng B, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dƣơng. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi điều khiển xe mô tô đi đến trƣớc dãy trọ số 45A/1/9, khu phố Đ, phƣờng B, thị xã T (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dƣơng, A bị lực lƣợng tuần tra Công an phƣờng Bình Hòa phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra, phát hiện ổ khóa xe mô tô biển số 38K1-377.43 bị hƣ hỏng nên đã đƣa A về trụ sở làm việc. A đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội.
Theo Kết luận định giá số 03/BB.ĐG ngày 09/01/2020 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng: Xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen trắng, số khung: C6K0GY333905, số máy: 5C6K333913, biển số 38K1 - 377.43, trị giá 11.500.000 đồng.
Cáo trạng số 123/CT-VKS ngày 24/02/2020, Viện kiểm sát nhân dân thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo A về tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 01 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 01 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo A mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã (nay là thành phố) Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại, ngƣời làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Khoảng 13 giờ ngày 05/12/2019, tại địa chỉ 171/58, khu phố B, phƣờng A, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dƣơng, A sử dụng cây đoản bằng kim loại hình chữ T v n ổ khóa xe mô tô biển số 38K1 - 377.43 của anh Bùi Văn Đ trị giá 11.500.000đồng, làm sáng đèn nguồn, rồi đẩy xe ra ngoài nổ máy, điều khiển xe đi về hƣớng phƣờng B, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dƣơng. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo A đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 01 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số 123/CT-VKS ngày 24 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo A là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Trên địa bàn thành phố Dĩ An, tình hình tội phạm lợi dụng sự sơ hở của bị hại, sử dụng công cụ phạm tội là thanh kim loại hình chữ T bẻ khóa xe mô tô chiếm đoạt tài sản của bị hại xảy ra ngày càng nhiều, đ c biệt tại các dãy nhà trọ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng, hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại; bị cáo đầu thú đây là tình tiết đƣợc quy định tại điểm i, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi năm 2017 nên khi quyết định hình phạt c ng cần xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời nghề nghiệp làm thuê, đang nuôi con nhỏ; nghiện ma túy; là ngƣời có nhân thân xấu, ngày 21/02/2017 của Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh N áp dụng biện pháp đƣa đi cai nghiện tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội I, tỉnh Nghệ An thời hạn 12 tháng, đến cuối tháng 12/2017 thì chấp hành xong.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt là xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen trắng biển số 38K1 - 377.43, trị giá 11.500.000 đồng đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Xét 01 cây đoản bằng kim loại hình chữ T, A sử dụng làm công cụ phạm tội cần tuyên tịch thu, tiêu hủy.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm đủ sức răn đe, giáo dục và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là có cơ sở chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo A phạm tội trộm cắp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo A 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2019.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 cây đoản bằng kim loại hình chữ T.
{Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/4/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An (nay là thành phố) Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng}
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo A phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo, bị hại đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án ho c bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Dĩ An; - Công an thành phố Dĩ An; - Chi cục THA dân sự thành phố Dĩ An; - Trại tạm giam CA tỉnh BD; - TAND tỉnh BD; - UBND nơi bị cáo cƣ trú; - Phòng PV 27 CA tỉnh BD; - Phòng PC 81 CA tỉnh BD; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; -VKS nhân dân tỉnh Bình Dƣơng; - Lƣu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hiền |