- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vương Khiết L - Nguyễn Kinh T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Vương Khiết L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2020/HNGĐ-ST Ngày 12 tháng 8 năm 2020 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Ni.
Các Hội thẩm nhân nhân dân:
1. Bà Lê Thị Thu Yến.
2. Ông Nguyễn Thanh Sang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trạng - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phi Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 355/2020/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Vương Khiết L, sinh năm 1966;
Địa chỉ: Đường Đ, phường N, quận N, thành phố H.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Kinh T, sinh năm 1969;
Địa chỉ: Đường H, phường T, thành phố M, tỉnh T.
(Vắng mặt bà L, ông T)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 14/5/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Vương Khiết L trình bày: Bà và ông Nguyễn Kinh T qua tìm hiểu và chung sống với nhau năm 2000, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, quận N, thành phố H vào ngày 01/8/2001. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn do sức khỏe bà ngày càng giảm sút, kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn và ông T không lo chăm sóc gia đình mà còn thường xuyên nhậu nhẹt về mắng chửi vợ con. Bà khuyên răn ông T nhiều lần nhưng không có kết quả. Vợ chồng ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Kinh T.
Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Minh T1, sinh ngày 09/11/2001 và Nguyễn Khánh Minh T2, sinh ngày 03/7/2004. Bà L yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T2, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Kinh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án và không có ý kiến gì.
* Tại phiên tòa:
Bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tòa án, Hội đồng xét xử và nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử chuẩn bị nghị án đều đúng theo trình tự do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Riêng bị đơn không tuân thủ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát cho rằng yêu cầu khởi kiện của bà L là có căn cứ và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L, giao cháu Nguyễn Khánh Minh T2, sinh ngày 03/7/2004 cho bà L được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà L không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi thẩm tra xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nghe lời trình bày và phát biểu tranh luận của đương sự, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp: Bà L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông T nên đây là tranh chấp ly hôn được quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2] Về tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Kinh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông vắng mặt mà không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Vương Khiết L và ông Nguyễn Kinh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường N, quận N, thành phố H cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật nên hôn nhân của bà L và ông T là hôn nhân hợp pháp.
Xét thấy từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa xét xử hôm nay, Tòa án đã triệu tập ông T đến Tòa án nhưng ông vắng mặt không có lý do, ông T không đưa ra được một biện pháp cụ thể nào để hàn gắn lại mối quan hệ vợ chồng nên ông đã mặc nhiên từ bỏ cơ hội để vợ chồng đoàn tụ với nhau. Hiện tại bà L trình bày không còn tình cảm, không muốn tiếp tục chung sống đời sống vợ chồng với ông T và tại phiên tòa vẫn cương quyết ly hôn. Đời sống vợ chồng giữa ông bà đã mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, cả hai không còn yêu thương quan tâm chăm sóc lẫn nhau và đã ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Đời sống chung của ông bà không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh chị có 02 con chung là Nguyễn Minh T1, sinh ngày 09/11/2001 (đã thành niên, có khả năng lao động) và Nguyễn Khánh Minh T2, sinh ngày 03/7/2004. Bà L yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T2, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu T2 hiện nay đang sống và có nguyện vọng được sống với bà L. Vì vậy, để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện, ổn định về tâm lý của cháu T2 thì Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu cho bà L tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi cháu T2.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Về án phí: Bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Vương Khiết L.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Vương Khiết L được ly hôn với ông Nguyễn Kinh T;
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Khánh Minh T2, sinh ngày 03/7/2004 cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.
2. Về án phí: Bà Vương Khiết L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Bà L đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001529 ngày 03/6/2020 của Chi cục T hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, nên xem như đã nộp xong án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Bà L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND TP Mỹ Tho; - Chi cục THADS TP Mỹ Tho; - UBND phường N, quận N, TP H; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Huyền Ni |