vanban.org

Bản án 87/2019/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Đ khởi kiện bà Nguyễn Thị T về hợp đồng tín dụng"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
Toµ ¸n nh©n d©n
HuyÖn HIỆP HÒA
TØnh B¾c Giang

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2019/DSST

Ngày 27/12/2019 V/v tranh chấp hợp đồng

tín dụng

Nh©n Danh

Níc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam

Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn HIỆP HÒA- TØnh B¾c Giang

Víi thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ: Ông Nguyễn Xuân Toàn

+ C¸c Héi thÈm nh©n d©n:

1/ Ông Nguyễn Xuân Trường.

2/ Ông Nguyễn Ngọc Trứ.

Thư ký phiên toà: Ông Ngô Thanh Thuần- Thư ký Toà án nH dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nH dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thúy- Kiểm sát viên

Trong ngày 27 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Toà án nH dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 147/2019/TLST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2019 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2019/QĐST-DS ngày 15 ngày 11 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ; Địa chỉ trụ sở chính: Số 130 P, quận P, T phố H

Đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T- Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Minh H- Chức vụ: Nhân viên quản lý tín dụng Ngân hàng TMCP Đ- Chi nhánh Bắc Giang- Phòng giao dịch huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang- Có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện H, tỉnh B- Vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện H, tỉnh B- Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 02 năm 2019 kèm theo giấy tờ, các tài liệu liên quan và các lời khai tại Toà án nH dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (bà Nguyễn Thị Minh H) trình bày như sau:

Bà Nguyễn Thị T có quan hệ tín dụng với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh Bắc Giang- Phòng giao dịch Hiệp Hòa (gọi tắt là D Bank), chi tiết nhưa sau: Tổng hạn mức cấp tín dụng: 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng), cụ thể: Hợp đồng vay số 0141968701T16002; Số tiền vay: 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng); lãi suất 8,5%/năm; thời hạn vay: Từ ngày 23/7/2016 đến 23/7/2017; Mục đích vay: Chăn nuôi; Phương thức thanh toán nợ vay: nợ gốc và lãi trả góp hàng tháng; Biện pháp bảo đảm: Vay qua Hội phụ nữ; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn H.

Trong quá trình vay, từ ngày 23/7/2016 đến ngày 18/02/2019 bà Nguyễn Thị T chi trả được tổng số tiền như sau: Vốn: 9.621.143đ; lãi trong hạn: 1.238.857đ; Tổng cộng: 10.860.000đ (Mười triệu tám trăm sáo mươi nghìn đồng).

Ngân hàng xác định bà Nguyễn Thị T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ vay, tính đến ngày 18/02/2019 bà T còn nợ các khoản sau: Vốn 10.378.857đ; Lãi trong hạn: 456.421đ; Lãi quá hạn: 2.389.005đ; Tổng cộng: 13.229.005đ (Mười ba triệu hai trăm hai mươi chín nghìn không trăm linh năm đồng). Sau khi kiểm tra lại, Ngân hàng xác định tháng 3/2019 bà T đã trả cho Ngân hàng thêm số tiền là 1.00.000đ, vì vậy bà T còn nợ của Ngân hàng sô tiền là 12.229.005đ.

Do vậy, nay Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh Bắc Giang-Phòng giao dịch Hiệp Hòa có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh Bắc Giang- Phòng giao dịch Hiệp Hòa toàn bộ số tiền còn nợ tính đến ngày 27/12/2019 là 12.866.202đ (Mười hai triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn hai trăm linh hai đồng), trong đó tiền nợ gốc là 9.378.857đ, nợ lãi trong hạn là 456.421đồng, nợ lãi quá hạn 3.030.924đ và lãi phát sinh từ ngày 28/12/2019 đến ngày bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn H trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh Bắc Giang- Phòng giao dịch Hiệp Hòa theo lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.

Bị đơn (bà Nguyễn Thị T)trình bày: Ngày 22/7/2016 bà có ký kết giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ-Chi nhánh Bắc Giang- Phòng giao dịch Hiệp Hòa để vay số tiền gốc là 20.000.000đ, thời hạn vay là 12 tháng, mục đích vay để chăn nuôi. Chồng bà là Nguyễn Văn H có ký vào giấy vay này ở mục “người bảo lãnh”. Sau khi ký xong, Ngân hàng đã giải ngân, vợ chồng bà đã nhận đủ tiền vay, lãi suất thỏa thuận là 8,5%/năm. Từ khi vay đến nay bà đã trả được cho Ngân hàng số tiền gốc là 9.621.143đ, lãi trong hạn là 1.238.857đ, tổng cộng là 10.860.000đ. Khoảng tháng 3/2019 bà lại trả cho Ngân hàng được cả gốc và lãi là 1.000.000đ (Một triệu đồng). Do điều kiện kinh tế khó khăn nên bà vẫn chưa trả được hết số tiền còn nợ cho Ngân hàng. Nay Ngân hàng yêu cầu bà và chồng là ông Nguyễn Văn H phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi còn nợ, vợ chồng bà nhất trí trả theo như đơn khởi kiện của Ngân hàng. Nhưng bà cũng đề nghị Ngân hàng xem xét việc bà đã trả cho Ngân hàng được thêm 1 triệu đồng vào khoảng tháng 3/2019. Ông Nguyễn Văn H- chồng bà hiện đi làm ăn ở bên ngoài địa phương nhưng vẫn về qua nhà. Do điều kiện khó khăn nên bà đề nghị Ngân hàng cho bà được miễn trả tiền lãi, bà sẽ lo trả tiền gốc cho Ngân hàng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông Nguyễn Văn H): Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt tại Tòa án để làm việc, cũng không gửi văn bản ghi ý kiến của ông H đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì vậy không có lời khai của ông H. Tòa án cùng với cán bộ địa phương về trực tiếp tại gia đình ông H nhưng ông H không có mặt ở nhà. Bà T là người nhận thay toàn bộ các giấy triệu tập, thông báo, quyết định của Tòa án. Tuy nhiên, ông H không đến Tòa án để làm việc và tham gia phiên tòa sơ thẩm như các thông báo, quyết định của Tòa án.

Tại phiên toà, đại diện viện kiểm sát nH dân huyện Hiệp Hòa phát biểu ý kiến, việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xét đã đảm bảo đúng theo quy định; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án cơ bản đúng quy định, đối với bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không chấp hành theo đúng quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 463; 466; 468; 470; khoản 2 Điều 357; Điều 288; Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nH và gia đình; Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; §iÒu 91 của LuËt c¸c tæ chøc tÝn dông.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ-Chi nhánh Bắc Giang- Phòng giao dịch Hiệp Hòa.

Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh Bắc Giang-Phòng giao dịch Hiệp Hòa tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 27/12/2019 là 12.866.202đ (Mười hai triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn hai trăm linh hai đồng), trong đó tiền nợ gốc là 9.378.857đ, nợ lãi trong hạn là 456.421đồng, nợ lãi quá hạn 3.030.924đ.

Về án phí: Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh Bắc Giang- Phòng giao dịch Hiệp Hòa không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh Bắc Giang-Phòng giao dịch Hiệp Hòa số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 320.000đ (Ba trăm hai mươi nghìn đồng) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0000053 ngày 09/8/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n ®îc thÈm tra t¹i phiªn toµ vµ c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ, Héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh:

. VÒ thñ tôc tè tông:

Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn H đã được Toà án triệu tập, thông báo thụ lý vụ án, thông báo hoà giải hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ 2 nhưng đương sự vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 207 và điểm b khoản 2 §iÒu 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự có tên nêu trên.

. VÒ néi dung tranh chÊp:

Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh Bắc Giang- Phòng giao dịch Hiệp Hòa và bà Nguyễn Thị T tự nguyện thỏa thuận ký kết cho vay tiền theo Hợp đồng tín dụng số 0141968701T16002 ngày 23/7/2016, xác nhận là hợp đồng hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

.1. Xét yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh Bắc Giang- Phòng giao dịch Hiệp Hòa yêu cầu bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ thanh toán trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh Bắc Giang- Phòng giao dịch Hiệp Hòa toàn bộ số tiền còn nợ tính đến ngày 27/12/2019 là 12.866.202đ (Mười hai triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn hai trăm linh hai đồng), trong đó tiền nợ gốc là 9.378.857đ, nợ lãi trong hạn là 456.421đồng, nợ lãi quá hạn 3.030.924đ, thấy rằng:

Tại Tòa án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định sau khi bà Nguyễn Thị T và Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh Bắc Giang- Phòng giao dịch Hiệp Hòa thỏa thuận ký kết Hợp đồng tín dụng số 0141968701T16002 ngày 23/7/2016, Ngân hàng đã thực hiện nghĩa vụ của bên cho vay là giao số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) cho bà T vay, mục đích vay là để chăn nuôi, bà T xác nhận đã nhận đủ số tiền này. Đến kỳ hạn trả nợ từ ngày vay đến ngày 18/02/2019, tổng số tiền bà T còn nợ của Ngân hàng là: 13.229.005đ (Mười ba triệu hai trăm hai mươi chín nghìn không trăm linh năm đồng), trong đó tiền nợ gốc là 10.378.857đ, nợ lãi trong hạn là: 456.421đ; nợ lãi quá hạn là: 2.389.005đ; đến tháng 3/2019 bà T trả tiếp cho Ngân hàng được thêm 1.000.000đ. Phía bà T cũng xác nhận còn nợ của Ngân hàng số tiền gốc và lãi như trên, tuy nhiên do điều kiện khó khăn nên xin được trả tiền gốc, đề nghị Ngân hàng cho miễn trả tiền lãi. Do đó có căn cứ xác định bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn H còn nợ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh Bắc Giang- Phòng giao dịch Hiệp Hòa số tiền gốc là 9.378.857đ, nợ lãi trong hạn là 456.421đ, nợ lãi quá hạn 3.030.924đ; tổng cộng là: 12.866.202đ (Mười hai triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn hai trăm linh hai đồng). Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh Bắc Giang- Phòng giao dịch Hiệp Hòa là có căn cứ, cần buộc bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh Bắc Giang- Phòng giao dịch Hiệp Hòa số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (27/12/2019) gồm nợ gốc còn nợ là 9.378.857đ, lãi trong hạn là 456.421đ, nợ lãi quá hạn 3.030.924đ; tổng cộng là: 12.866.202đ (Mười hai triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn hai trăm linh hai đồng).

Quan hÖ gi÷a bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn H lµ quan hÖ vî chång, vì vậy thu nhập hợp pháp cũng như nợ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nH là thu nhập và nợ chung của vợ chồng. C¨n cø vµo Điều 288 của Bộ luật dân sự và Điều 27 Luật hôn nH và gia đình th× bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn H ph¶i chÞu tr¸ch nhiÖm liªn ®íi ®èi víi viÖc thanh to¸n nî cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh Bắc Giang- Phòng giao dịch Hiệp Hòa là phù hợp. Cần buộc bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn H phải có trách nhiệm liên đới thanh toán trả Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh Bắc Giang- Phòng giao dịch Hiệp Hòa số tiền gốc và lãi còn nợ.

. Về án phí: Yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh Bắc Giang- Phòng giao dịch Hiệp Hòa được chấp nhận nên Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh Bắc Giang- Phòng giao dịch Hiệp Hòa không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn H phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

V× c¸c lÏ trªn

QuyÕt ®Þnh:

Áp dụng các Điều 463; 466; 468; 470; khoản 2 Điều 357; Điều 288; Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nH và gia đình; Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; §iÒu 91 của LuËt c¸c tæ chøc tÝn dông; Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh Bắc Giang- Phòng giao dịch Hiệp Hòa.

Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh Bắc Giang-Phòng giao dịch Hiệp Hòa tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 27/12/2019 là 12.866.202đ (Mười hai triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn hai trăm linh hai đồng), trong đó tiền nợ gốc là 9.378.857đ, nợ lãi trong hạn là 456.421đ, nợ lãi quá hạn là 3.030.924đ.

Về án phí: Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ liên đới chịu 643.300đ (Sáu trăm bốn mươi ba nghìn ba trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh Bắc Giang- Phòng giao dịch Hiệp Hòa không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ-Chi nhánh Bắc Giang- Phòng giao dịch Hiệp Hòa số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 320.000đ (Ba trăm hai mươi nghìn đồng) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0000053 ngày 09/8/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án vÉn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất ®· tháa thuËn trong hîp ®ång ®· ký kÕt kÓ tõ ngày tiếp theo của ngày tuyên án sơ thẩm cho ®Õn khi thi hµnh ¸n xong, theo møc l·i suÊt t¬ng øng do Ng©n hµng Nhµ níc quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

B¸o cho ®ư¬ng sù cã mÆt biÕt ®ược quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.

Cỡ chữ