vanban.org

Bản án 87/2018/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 15/11/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/11/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2018/HSST ngày 18-05-2018 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rôn , đã tuyên bố bị cáo Trần Công Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Giao hồ sơ vụ n cho Cơ quan điều tra huyện Đam Rôn để tiến hành điều tra lại vụ án theo thủ tục chung. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 n 30 th n 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Trần Công Th không phải chịu án ph…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Công T. Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm…"
  • Tòa quyết gì? Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2018/HSST ngày 18-05-2018 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rôn , đã tuyên bố bị cáo Trần Công Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T A N NH N D N

C NG H A

H CH NGH A V T NAM

T NH L M Đ NG

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ản n số: 87/2018/HS-PT N : 15-11-2018

NHÂN DANH

N C C NG H A

H CH NGH A V T NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH L M Đ NG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Kim Đồng

Các Thẩm phán:

Ông Huỳnh Văn Hiệp

Ông Huỳnh Châu Thạch

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy, Thư ký Tòa n nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đ o, Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2018/TLPT-HS ngày 06-7-2018 đối với bị cáo Trần Công Th, do có kháng cáo của bị cáo, kháng cáo của bị hại Lê Thị Châu M đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2018/HSST ngày 18-05-2018 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rôn , tỉnh Lâm Đồng.

* Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Trần Công Th, sinh năm 1973 tại tỉnh Ninh Thuận; nơi ĐKHKTT v cư trú: Thôn TT, xã ĐK, huyện Đam Rôn , tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Hôn S, sinh năm 1935, con bà Ừng Nhục M, sinh năm 1951; vợ Nguyễn Thị L, sinh năm 1975; bị cáo có 04 n ười con, con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2009;

Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13-3-2015, đến ngày 11-6-2015 thì được tại ngoại. Bắt tạm giam ngày 21-02-2017 đến ngày 10-3-2017, được tha đổi biện pháp tạm giam bằng biện ph p “Đặt tiền để bảo đảm”. Hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt.

N ười bào chữa: Luật sư Vũ Th nh N - Văn phòn luật sư NT, Đo n luật sư tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

* Người tham gia tố tụng khác có kháng cáo, có liên quan đến kháng cáo:

- Bị hại: chị Lê Thị Châu M, sinh năm 1974; nơi cư trú: Ấp 7, xã ST, huyện TB, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.

N ười bảo vệ quyền, lợi ích cho bị hại: Luật sư Lê Cao T - Văn phòn luật sư BT, Đo n luật sư tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn TT, xã ĐK, huyện Đam Rôn , tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Ôn Đinh ạt Đ, sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn TT, xã ĐK, huyện Đam Rôn , tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

2. Anh Ngọ Văn H, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn TT, xã ĐK, huyện Đam Rôn , tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

3. Anh K’ K, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn thôn LT, xã ĐK, huyện Đam Rôn , tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

4. Anh Triệu Văn Th1, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn TT, xã ĐK, huyện Đam Rôn , tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

5. Anh Lưu Văn M, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn TT, xã ĐK, huyện Đam Rôn , tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

6. Đặng Thị Đ1, sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn TT, xã ĐK, huyện Đam Rôn , tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

7. Chị Trần Mộng T, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn TT, xã ĐK, huyện Đam Rôn , tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

8. Chị Trần Cẩm L1, sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn TT, xã ĐK, huyện Đam Rôn , tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

N I DUNG VỤ ÁN

Theo c c t i liệu có tron hồ sơ vụ n v diễn biến tại phiên tòa, nội dun vụ n được tóm tắt như sau:

Xuất phát từ việc vay nợ giữa vợ chồng chị M (bị hại), anh D (anh ruột bị cáo) với ia đình vợ chồng bị cáo Th, chị L (bị cáo Th, em dâu bị hại M). Đến chiều ngày 03-11-2014, bị hại chị M và chị T (con chị M) đến nhà bị cáo Th để cân cà phê trừ nợ; bà M điều khiển xe máy chở chị T, mang theo 01 ổ khóa với mục đích khóa cổng nhà bị cáo, để không chở c phê đi b n được.

Qu trình đòi nợ, bị hại chị M cư xử qu đ n nên bị cáo Th, chị L bức xúc. Do bị cáo, bà L khôn đồng ý cho bị hại cân cà phê trừ nợ, nên hai bên xảy ra cãi vã, to tiếng. Bị cáo Th gọi hàng xóm xung quanh và Trưởng thôn (ông H) đến để giải quyết. Tại nhà bị cáo Th, ông H lập biên bản và nói bị hại chị Mai đòi nợ theo kiểu “xã hội đen”. ị hại chị M khôn đồng ý và cho rằng “ông H không có thẩm quyền giải quyết”, nên ông H đã xé bỏ biên bản, sau đó cùn mọi n ười đi ra n o i; trong nhà chỉ còn bị hại chị M ngồi trên ghế dài, sát cửa hông, tư thế khoanh hai chân trên ghế, 02 ta đút v o túi o, chị T ngồi phía bên trong xem tivi. Bị cáo Th cùng với chị L đi ra qu n trước nh , ôn Đ và nhữn n ười hàng xóm (ông H, bà N, bà Đ1), đều đứng phía ngoài cổng và nói chuyện.

Trong lúc nói chuyện, ôn Đ nói“giờ mời không về thì chỉ còn cách kéo ra rồi đóng cổng lại”, bị cáo Th và chị L đi v o nh ; bị cáo Th đứng ở vị trí bên trái cửa chính theo hướng từ ngoài vào, chị L đi theo cửa hôn đứng phía sau bị hại; bị cáo Th và chị L yêu cầu bị hại chị M đi về nhưn bị hại chị M vẫn ngồi trên ghế và to tiếng nói lại. Chị L tiến đến túm tóc bị hại chị M giật ra phía sau, bị hại chị M bỏ chân trái xuốn , đồng thời quay lại cào cấu chị L. Lúc này bị cáo Th đi lại, hai tay nắm cổ áo bị hại chị M rồi dùn chân đạp vào bụn dưới bị hại chị M, làm cho bị hại chị M ngồi bệt mông xuống nền nhà, giữa bàn uốn nước và ghế dài. Bị cáo Th tiếp tục chân tr i đứng sát bàn uốn nước, chân phải đứng giữa hai chân bị hại, dùn hai ta túm tóc v dìm đầu bị hại chị M xuống nền nhà, nên bị hại chị M liên tục chống cự và dùng tay cào cấu lại. Khi bị hại chị M co chân trái lại lấy thế đứng lên, bị cáo Th dùng chân phải đạp v o đầu gối bị hại chị M; sau đó, bị cáo Th đứng qua bên phải bị hại chị M, chị L leo lên ghế dài bên tr i để kéo bị hại chị M ra, bị hại chị M chống cự lại và ngồi lết dưới nền nhà. Khi bị cáo Th và chị L kéo bị hại chị M ra gần cửa chính thì chị T lao vào giằng co, kéo chị L ra. Lúc này bị cáo Th xốc hai tay vào hai bên nách bị hại, qua lưn bị hại ra đường, mặt hướng vào nhà, kẹp bên tay trái, chị L kẹp bên tay phải, kéo bị hại chị M ra cổng. Quá trình kéo bị hại chị M từ trong nhà ra cổng, bị hại chị M liên tục giằn co, hì n ười xuống, có lúc mông chạm đất, hai chân duỗi thẳn đồng thời cào cấu lại bị cáo Th và chị L. Khi ra đến đốn đ trước cổng, chị L bỏ ra nhưn bị hại vẫn cào cấu, giằng co. Lúc này, bà N đứng gần đó đi lại gỡ bị hại và chị L ra, chị L đi qua qu n v o nh , bị cáo Th cũn bỏ bị hại ra, đi đường cổng chính vào nhà. Bị hại đứng dậy, nhặt đ ném theo chị L rồi đi theo bị cáo Th vào trong hiên nhà. Khi v o đến hiên nhà, bị hại lấy ổ khóa tron n ười ném trúng ngực chị L, sau đó bị hại ngồi xuống hiên nhà và nói với chị T là bị đ nh ã chân, rồi gọi điện cho ông D (chồng bị hại) đến.

Qu trình đi từ cổng vào hiên nhà, bị hại không bị ngã hay có va chạm nào kh c v o vùn đầu gối, đã được nhữn n ười làm chứng xác nhận. Bị hại chị M ngồi ở hiên nh cho đến khi Côn an xã Đạ K'N n đến và được ông K' K (Phó Công an xã) cõng ra xe và chở đến Phòng khám quân dân y xã Phi Liêng cấp cứu, sau đó được chuyển lên Bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng, chuyển đến Bệnh viện chấn thươn chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh chữa trị vết thươn đầu gối trái, chân trái nẹp cố định (các bút lục 30-32, 39-41, 50-55, 58-61, 75, 87, 89, 97-101, 119-136, 147-182, 270-279).

Tron qu trình điều tra, cơ quan chức năn đã thu iữ 01 ổ khóa mầu bạc; 01 cục đ kích thước 5x7cm, màu xanh (bút lục 33).

Tại Bản kết luận số: 01/2015/TgT ngày 14-01-2015 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận bị hại chị M “bị đứt dây chằng chéo trước gối trái đã phẫu thuật, di chứng hạn chế động tác gối trái; Rách sụn chêm ngoài; Vỡ sụn lồi cầu trong gối trái”; tỷ lệ thươn tích 35% (các bút lục 39, 40).

+ Tại Bản kết luận (lần 2) số: 81/16/TgT ngày 15-8-2016 của Phân Viện Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh kết luận bị hại chị M “bị đứt hoàn toàn dây chằng chéo trước đã được phẫu thuật tái tạo dây chằng; Vỡ lồi cầu xương đùi gây hạn chế vận động khớp gối mức độ nhẹ; Rách sụn chêm gối trái đã được phẫu thuật”; tỷ lệ thươn tích 35%.

+ Tại Bản kết luận số: 57/17/TgT ngày 22-5-2017 (giám định bổ sung) của Phân viện pháp y thành phố Hồ Chí Minh; bị hại chị M bị chấn thươn đứt dây chằn chéo trước gối trái, rách sụn chêm ngoài, vỡ sụn lồi cầu trong gối trái “là do tác động ngoại lực gây ra”.

Trong vụ án này, chị L cùng tham gia cào cấu với bị hại chị M và cùng với bị cáo Th dùng tay kéo bị hại đi ra n o i, h nh vi của chị L đã â tổn hại đến sức khỏe của bị hại chị M. Tuy Tòa n đã trả hồ sơ êu cầu cơ quan điều tra làm rõ để khởi tố chị L về hành vi “Cố ý gây thương tích” với vai trò l đồng phạm với bị cáo Th nhưn khôn được không chấp nhận.

Tại Bản án số: 11/2018/HSST ngày 18-05-2018 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, đã tuyên bố bị cáo Trần Công Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng khoản 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (tương ứng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015); Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 (tương ứng Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015).

- Xử phạt bị cáo Trần Công Th 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án; được trừ 98 n đã tạm iam trước.

- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Th phải bồi thường cho bị hại chị M số tiền 100.000.000đ.

Tạm giữ số tiền 20.000.000đ của bị cáo (đặt tiền để bảo đảm) đã nộp vào tài khoản 3949.0.1048910.00000 của Chi cục thi hành án huyện Đam Rôn để đảm bảo cho việc thi hành án dân sự.

Ngoài ra, Bản án còn xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi h nh n theo qu định pháp luật.

Ngày 29-5-2018 bị cáo Th kháng cáo toàn bộ bản n sơ thẩm, cho rằng bị oan, khôn â thươn tích cho bị hại bà M.

Ngày 25-5-2018, bị hại chị M kháng cáo yêu cầu bị cáo bồi thường 222.000.000đ; chị L tham ia vai trò đồng phạm, đề nghị xem xét khởi tố chị L để xử lý theo pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo cho rằng bị cáo không thực hiện hành vi dùng chân đạp v o đầu gối của bị hại dẫn đến thươn tích, nên khôn chịu trách nhiệm hậu quả thươn tích; đề nghị Tòa án xem xét minh oan cho bị cáo.

Luật sư b o chữa cho rằng Bản n sơ thẩm căn cứ lời khai duy nhất của bị hại bà M để quy kết bị cáo thực hiện h nh vi dùn chân đạp v o đầu gối của bị hại dẫn đến thươn tích l chưa đủ căn cứ. Bởi lẽ, không thể căn cứ lời khai của bị hại bà M, n ười làm chứng chị T (con bị hại); tron khi đó, sự việc xảy ra trong nhà bị cáo Th có bà L (vợ bị cáo Th), chị L1 (con bị cáo) cũn l n ười làm chứng khai cho rằng bị c o khôn dùn chân đạp v o đầu gối bị hại, nên cũn khôn thể căn cứ lời khai của bà L, chị L1. Tại phiên tòa phúc thẩm còn x c định có anh Th1 cũn có mặt lúc xảy ra sự việc trong nhà bị cáo. Ngoài ra, các chứng cứ khác mâu thuẫn như bệnh án tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng; giấy chuyển viện đến Bệnh viện chấn thươn chỉnh hình; kết luận giám định.... Do vậy, đề nghị Tòa án hủy toàn bộ Bản n sơ thẩm để điều tra lại nhằm bảo đảm việc xử lý đún n ười, đún tội, tránh oan sai.

Về phía bị hại chị M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu bồi thường 220 triệu, đồng thời khẳn định rằn thươn tích do bị cáo Th dùn chân đạp v o đầu gối, bà L thực hiện h nh vi túm tóc để bị cáo Th đạp v o đầu gối, nên đề nghị Tòa án xem xét. Luật sư bảo về quyền lợi của bị hại cho rằng kháng cáo của bị hại l có căn cứ v đề nghị chấp nhận. Đối với n ười làm chứng tại phiên tòa phúc thẩm khai không khách quan bởi lẽ giữa bị hại bà M và nhữn n ười làm chứng có mâu thuẫn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồn đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, kháng cáo của bị hại; giữ nguyên Bản n sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH C A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ n đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xuất phát từ việc vay nợ giữa vợ chồng chị M (bị hại), anh D (anh ruột bị cáo) với ia đình vợ chồng Trần Công Th (bị cáo, em dâu bị hại M), chị L. Do vậy chiều ngày 03-11-2014, bị hại bà M và chị T đến nhà bị c o Thìn để cân cà phê trừ nợ. Tu nhiên, qu trình đòi nợ, bị hại bà M cư xử qu đ n nên bị cáo Th và bà L (vợ bị cáo Th) bức xúc, khôn đồng ý cho bị hại cân cà phê trừ nợ, nên hai bên xảy ra cãi vã, to tiếng với nhau.

Theo hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo không thừa nhận thực hiện hành vi dùng chân “đạp vào đầu gối” của bị hại; tron khi đó lời khai của bị hại cho rằng bị cáo thực hiện h nh vi dùn chân “đạp vào đầu gối” bị hại dẫn đến thươn tích. Đối chiếu tài liệu chứng cứ khác thể hiện, sự việc xảy ra trong nhà bị cáo Th và chỉ có bị hại bà M, bị cáo, bà L (vợ bị cáo), chị L1 (con bị cáo) chị T (con bị hại), tron khi đó giữa lời khai của bà L, chị T khai mâu thuẫn. Ngoài ra, lời khai n ười làm chứng như ôn M, b Đ, ông H, ôn Đ, chị N không chứng kiến sự việc xảy ra trong nhà, nên không ai nhìn thấy bị c o dùn chân đạp v o đầu gối bị hại. Tại phiên tòa phúc thẩm n ười làm chứn ôn Đ, b Đ x c định kể từ khi bị cáo Th, bà L cầm tay, kẹp n ch ôm đẩy bị hại từ tron nh ra đến cổng nhà của bị cáo Th, sau đó bị hại còn chạy theo cầm đ , cầm ổ khóa ném bà L và chạy từ cổn v o đến thềm nhà thì thấy bị hại vấp ngã. Như vậy, theo bản kết luận i m định số: 801/GĐ-PC54 (bút lục 444) cho rằn “đứt dây chằng chéo trước gối trái do ngoại lực tác động hoặc do chạy dừng đột ngột và chuyển hướng hoặc xoay người đột ngột”. Do vậy, cần điều tra làm rõ việc bị hại chạy từ cổng vào thềm nhà và việc bị vấp ngã thế n o để x c định thươn tích đầu gối của bị hại có phải do vấp ngã tại vị trí thềm nhà của bị cáo hay không?

Tài liệu bệnh án và các tài liệu khai khi nhập viện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng (bút lục 385) thể hiện chụp XQ hi “ khe khớp đùi, ch v đùi, xươn b nh chè bình thường, mâm chày khôn có đường gãy, gai chày không có hình ảnh bất thườn ; xươn b nh chè, đầu gối, xươn đùi... Hiện tại chưa có dấu hiệu bất thường. Tài liệu chụp MRI ngày 04/11/2014 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng thể hiện “rách, thoái hóa sừng sau sụn chêm trong (grade III) và thoái hóa sừng trước sụn chêm trong (grade II)”. Đối chiếu tài liệu giấy chuyển viện đến Bệnh viện chấn thươn chỉnh hình Thành Phố Hồ Chí Minh hi “chấn thương gối trái/rách, thoái hóa sừng sau sụn chêm trong, dứt bán phần dây chằng chéo trước” (bút lục 53) tron khi đó t i liệu hồ sơ vụ án không thể hiện bị hại bà M nhập viện theo giấy chuyển viện đến Bệnh viện chấn thươn chỉnh hình Thành Phố Hồ Chí Minh để điều trị. Do vậy cần điều tra làm rõ tình trạng thươn tích bị hại bà M điều trị tại Bệnh viện chấn thươn chỉnh hình Thành Phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, sau 20 ngày sau (ngày 26-11-2014) bị hại bà M tự đến nhập viện Bệnh viện chấn thươn chỉnh hình Thành Phố Hồ Chí Minh với tình trạn thươn tích “đứt dây chằng chéo trước gối trái, rách sụn chêm ngoài, vỡ sụn cầu lồi...” (bút lục 54) nên cần điều tra làm rõ về nội dung này.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại bà M x c định không nhập viện Bệnh viện ình Dươn ; tron khi đó t i liệu trưn cầu i m định lại thể hiện hình ảnh chụp MRI của Bệnh viện ình Dươn l mâu thuẫn không phù hợp lời khai của bị hại.

Từ phân tích nêu trên, với chứng cứ thu thập của Cơ quan điều tra chưa đầ đủ để chứng minh hành vi của bị cáo Th có dùng chân dạp v o đầu gối của bị hại dẫn đến thươn tích, nên cần hủy toàn bộ Bản n sơ thẩm, giao hồ sơ vụ n cho Cơ quan điều tra để tiến h nh điều tra lại vụ án theo thủ tục chung.

Do hủy bản n sơ thẩm, nên chưa xem xét kh n c o của bị cáo, kháng cáo của bị hại.

[4] Về án phí: Do hủy Bản n sơ thẩm, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ v o điểm c khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xử:

1. Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2018/HSST ngày 18-05-2018 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rôn , đã tuyên bố bị cáo Trần Công Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Giao hồ sơ vụ n cho Cơ quan điều tra huyện Đam Rôn để tiến hành điều tra lại vụ án theo thủ tục chung.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 n 30 th n 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Trần Công Th không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM. H Đ NG ÉT Ử PHÚC THẨM

- Vụ GĐKT I - TANDTC;

THẨM PH N - CH TỌA PH ÊN T A

- VKSND tỉnh Lâm Đồn ;

- TAND, VKSND hu ện Đam Rôn ;

- Cơ quan điều tra Côn an Đam Rôn ;

- Phòng KTNV&THA;

(Đã Ký)

- Sở Tư ph p tỉnh Lâm Đồn ;

- ị c o;

- ị hại;

- Luật sư;

- N ười liên quan;

- Lưu hồ sơ; Án văn.

Nguyễn Kim Đồng

C C THẨM PH N

CH TỌA PH ÊN T A Huỳnh Văn Hiệp

Trịnh Văn Hùng

Nguyễn Kim Đồng

Cỡ chữ