- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quốc T và đồng bọn bị truy tố về tội Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc T, Dƣơng Lâm T1 phạm tội Cƣớp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 87/2018/HS-ST Ngày 18-4-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Thắm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Ngọc.
2. Bà Châu Hồng Nga.
- Thư ký phiên toà: Bà Chu Thị Vân, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Trần Trọng An, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 68/2018/HSST ngày 19 tháng 3 năm 2018, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 87/2018/HSST-QĐ ngày 06 tháng 4 năm 2018 đối với các bị cáo:
1. Phạm Quốc T, sinh năm 1982 tại tỉnh T; thƣ ng tr : Thôn N, xã Đ, huyện H, tỉnh T; tạm tr : 246/A khu phố Đ, phƣ ng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 12/12; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; con ông Phạm Quốc S, đã chết và bà Nguyễn Thị H, đã chết; vợ tên Vũ Thị N, sinh năm 1985; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 08/02/2012 bị Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 03 năm tù về tội Cƣớp tài sản; bị bắt tạm giam ngày 16/12/2017, có mặt tại phiên tòa.
2. Dƣơng Lâm T1, sinh năm 1994 tại tỉnh S; thƣ ng tr : Ấp L, xã H1, huyện M, tỉnh S; nghề nghiệp: Kh ng; trình độ văn hoá: 12/12; t n giáo: Kh ng; dân tộc: Kinh; con ng Dƣơng Lâm T, sinh năm 1967 và bà Trần Thị T1, sinh năm 1968; bị cáo chƣa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Kh ng; bị bắt tạm giam ngày 16/12/2017, có mặt tại phiên tòa.
Ngƣ i bị hại: Hoàng Thị M, sinh năm 1986; địa chỉ: 280/1A khu phố A, phƣ ng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Phạm Quốc T và Dƣơng Lâm T1 là bạn bè quen biết, cả hai đều nghiện chơi game và kh ng có nghề nghiệp ổn định.
Khoảng 18 gi ngày 15/12/2017, Phạm Quốc T và Dƣơng Lâm T1 đến tiệm game “Xgame” tại địa chỉ khu phố Đ, phƣ ng T, thị xã D để chơi game. Tại đây, Phạm Quốc T rủ Dƣơng Lâm T1 đi cƣớp tài sản của ngƣ i đi đƣ ng bán lấy tiền tiêu xài thì Dƣơng Lâm T1 đồng ý.
Đến khoảng 06 gi 30 ph t ngày 16/12/2017, Phạm Quốc T và Dƣơng Lâm T1 cùng đi bộ đến con đƣ ng hẻm kế bên nghĩa trang T thuộc khu phố A, phƣ ng T, thị xã Dĩ An đứng ch ngƣ i dân đi qua để thực hiện hành vi cƣớp tài sản. Khoảng 10 ph t sau, cả hai phát hiện chị Hoàng Thị M điều khiển xe m t nhãn hiệu Wave S, biển số 61S5 – 2632 đi qua. Phạm Quốc T đi ra giữa đƣ ng chặn đầu xe chị M giả v xin đi nh xe nhƣng chị M kh ng đồng ý. Chị M nổ máy xe đi tiếp thì Phạm Quốc T liền r t chùm chìa khóa xe của chị M vứt xuống lề đƣ ng và x ngã xe chị M đồng th i dùng tay phải m ngang vai chị M, kẹp cổ, ép sát ngƣ i. Chị M vùng vẫy thì Dƣơng Lâm T1 liền chạy tới hỗ trợ Dƣơng Quốc T, Dƣơng Lâm T1 dùng tay trái giữ tay chị M và dùng tay phải lấy chiếc điện thoại di động hiệu Oppo R7, màu trắng trong t i quần chị Minh đƣa cho Phạm Quốc T giữ rồi cả hai bỏ chạy về phòng trọ của Dƣơng Lâm T1. Chị M tri hô và cùng quần ch ng đuổi theo bắt đƣợc cả hai cùng tang vật.
Tại kết luận định giá số 30/BB.ĐG ngày 09/02/2018 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An kết luận: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án là 01 điện thoại di động hiệu Oppo R7 Lite, màu trắng trị giá 1.850.000 đồng đã thu hồi trả lại cho ngƣ i bị hại.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, ngƣ i bị hại kh ng có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận luận định giá số 30/BB.ĐG ngày 09/02/2018 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An nêu trên.
Tại cáo trạng số 86/CT - VKS ngày 19 tháng 3 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Phạm Quốc T và Dƣơng Lâm T1 về tội “Cƣớp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Phạm Quốc T mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù; xử phạt bị cáo Dƣơng Lâm T1 mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho ngƣ i bị hại, hiện bị hại đã nhận lại tài sản, tại cơ quan điều tra ngƣ i bị hại kh ng có yêu cầu gì khác, nên kh ng đặt ra.
Tại phiên tòa, các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát kh ng có ý kiến tranh luận. Trƣớc khi Hội đồng xét xử vào nghị án, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C ng an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣ i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣ i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên toà các bị cáo Phạm Quốc T và Dƣơng Lâm T1 thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An. Các bị cáo khai nhận: Khoảng 06 gi 40 phút ngày 16/12/2017, tại đƣ ng hẻm kế bên nghĩa trang T thuộc khu phố A, phƣ ng T, thị xã Dĩ An, Phạm Quốc T đã dùng vũ lực đe dọa, dùng tay phải m ngang vai ngƣ i bị hại là chị Hoàng Thị M, kẹp cổ, ép sát ngƣ i để Dƣơng Lâm T1 dùng tay phải thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là 01 điện thoại di động hiệu Oppo R7 Lite, màu trắng trị giá 1.850.000 đồng. Xét l i khai của các bị cáo phù hợp với l i khai của ngƣ i bị hại tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở xác định: Hành vi của bị cáo Phạm Quốc T và Dƣơng Lâm T1 dùng vũ lực khống chế ngƣ i bị hại, làm cho ngƣ i bị hại lâm vào tình trạng kh ng thể chống cự nhằm chiếm đoạt tài sản là 01 điện thoại di động hiệu Oppo R7 Lite, màu trắng trị giá 1.850.000 đồng là rất nguy hiểm cho xã hội. Theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự thì "1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm”.
Nhƣ vậy, hành vi nêu trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Cƣớp tài sản theo quy định tại Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 86/CT– VKS ngày 19 tháng 3 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với các bị cáo về “Tội cƣớp tài sản” là có căn cứ, đ ng ngƣ i, đ ng tội và đ ng pháp luật. Các bị cáo là ngƣ i có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của ngƣ i bị hại gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Các bị cáo đều nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣ i khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vì tham lam tƣ lợi đã cố tình thực hiện. Các bị cáo kh ng có nghề nghiệp ổn định, đều nghiện chơi game online, vì mục đích phục vụ những nhu cầu của bản thân nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm tƣơng xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo; cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đ i sống xã hội một th i gian để cải tạo giáo dục các bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
Xét đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhƣng là giản đơn kh ng có sự cấu kết chặt chẽ, kh ng có sự phân c ng vai trò cụ thể cho từng bị cáo nên kh ng xem là phạm tội có tổ chức. Bị cáo Phạm Quốc T là ngƣ i khởi xƣớng, rủ rê và trực tiếp khống chế ngƣ i bị hại; bị cáo Dƣơng Lâm T1 là ngƣ i gi p sức, trực tiếp chiếm đoạt tài sản của ngƣ i bị hại.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo kh ng có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Trong quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, các bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên khi lƣợng hình cũng cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, để giảm một phần hình phạt cho các bị cáo.
Về nhân thân:
Bị cáo Dƣơng Lâm T1 là ngƣ i kh ng có nghề nghiệp, chƣa có tiền án, tiền sự;
Bị cáo Phạm Quốc T là ngƣ i kh ng có nghề nghiệp, bản thân bị cáo đã có Bản án số 38/2012/HSST ngày 08/02/2012 của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 03 năm tù về tội Cƣớp tài sản, mặc dù đã đƣợc xóa án tích nhƣng bị cáo kh ng xem đó là bài học để sửa đổi bản thân làm ngƣ i có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội mới.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho ngƣ i bị hại, tại cơ quan điều tra ngƣ i bị hại kh ng yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử kh ng xem xét.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử lý trách nhiệm dân sự là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc T, Dƣơng Lâm T1 phạm tội Cƣớp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 168; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Quốc T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, th i hạn tù tính từ ngày 16/12/2017.
Xử phạt bị cáo Dƣơng Lâm T1 03 (ba) năm tù, th i hạn tù tính từ ngày 16/12/2017.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣ ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Phạm Quốc T, Dƣơng Lâm T1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣ i bị hại vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã; - C ng an thị xã; - Chi cục THA dân sự thị xã; - Trại tạm giam CA tỉnh BD; - TAND tỉnh BD; - UBND xã Đ, huyện H, tỉnh T; - UBND xã H1, huyện M, tỉnh S; - Phòng PV 27 CA tỉnh BD; - Phòng PC 81 CA tỉnh BD; - Bị cáo; - Ngƣ i bị hại; - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Lƣu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thắm |