- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn kiện xin ly hôn của bà Lại Thị D đối với ông Phạm Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2018/HNGĐ-ST Ngày: 09 - 8 - 2018 V/v tranh chấp "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Lâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Dũng
2. Bà Huỳnh Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Mai Sương - Thư ký tòa án nhân dân Quận Ngũ Hành Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ hành Sơn, TP. Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 36/2018/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2018/QĐXX-ST ngày 06 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Lại Thị D. Sinh năm: 1985 Trú tại: Thôn X, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định- Có mặt. 2. Bị đơn: Ông Phạm Văn T. Sinh năm: 1986 Trú tại: Tổ 13, phường Q, quận N, TP. Đà Nẵng- Vắng mặt
NỘI D VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 27/02/2018, bản trình bày và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lại Thị D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Văn T kết hôn vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Bình Định, hôn nhân tự nguyện. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì tình cảm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cải vã, ông T hay cờ bạc không lo làm ăn và không quan tâm đến hạnh phúc gia đình. Mặc dù bà đã khuyên giải ông T nhiều lần nhưng ông T vẫn chứng nào tật ấy không thay đổi, do đó vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay cả hai bên không liên lạc gì.
Nay xét tình cảm vợ chồng không còn nên bà làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Văn T.
- Về quan hệ con chung: Bà xác nhận, bà và ông T có 01 con chung, tên Phạm Thị Bích N, sinh ngày 02/6/2012, hiện nay đang ở với bà. Ly hôn, bà xin được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà xác nhận không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Bà xác nhận không có nợ chung.
Bị đơn ông Phạm Văn T đã được tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để ông T trình bày ý kiến, cung cấp các chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, nhưng ông T vẫn vắng mặt nên tòa án không có lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn phát biểu ý kiến về việc Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ và đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời những người tham gia tố tụng cũng đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Riêng bị đơn là ông Phạm Văn T đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51; 56; 58 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ các Điều 35; 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn và nuôi con chung của bà Lại Thị D đối với ông Phạm Văn T.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lại Thị D được ly hôn với ông Phạm Văn T.
Về con chung: Giao con Phạm Thị Bích N, sinh ngày 12/6/2012 cho bà Lại Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, ông Phạm Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1]
Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của bà Lại Thị D nộp tại Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng và Tòa án đã thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 28; Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bị đơn là ông Phạm Văn T vắng mặt không có lý do. Xét thấy trong qúa trình giải quyết vụ án, tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn đầy đủ. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. [2]
Về nội D vụ án: Bà Lại Thị D và ông Phạm Văn T kết hôn vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Chánh, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là đôi hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Trong quá trình chung sống với nhau thì đến năm 2015 thì tình cảm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Theo khai nại của bà D thì nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cải vã, ông T hay cờ bạc không lo làm ăn và không quan tâm đến hạnh phúc gia đình.
Qua quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông T tồn tại nhưng không thực sự hạnh phúc, cả hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2015 đến nay, giữa họ chỉ có trên danh nghĩa vợ chồng, đã từ lâu không còn trách nhiệm gì với nhau. Do đó vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay.
Tại phiên tòa, bà D cương quyết xin được ly hôn ông T, còn ông T vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông T theo quy định của pháp luật.
Qua điều tra, xác minh tại địa phương cho thấy ông Phạm Văn T có hộ khẩu thường trú tại tổ 64 (tổ 13 cũ) phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng. Việc ông Phạm Văn T và bà Lại Thị D có đăng ký kết hôn hay không tổ dân phố không biết thông tin, tổ dân phố cũng chưa từng thấy bà D sinh sống tại nhà ông T nên mâu thuẫn của ông T và bà D không được biết, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Hội đồng xét xử xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tại phiên tòa về căn cứ các điều luật áp dụng cũng như như đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là có căn cứ. [3] Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Lại Thị D và ông Phạm Văn T thực sự đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận cho bà Lại Thị D được ly hôn ông Phạm Văn T để giải phóng cho nhau là hoàn toàn phù hợp với khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Vợ chồng bà D và ông T có 01 con chung, tên là Phạm Thị Bích N, sinh ngày 12/6/2012. Ly hôn, bà D xin được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Xét việc giao con cho ai trông nom, nuôi dưỡng đều phải dựa vào quyền lợi mọi mặt của đứa trẻ. Ở đây cháu N hiện còn nhỏ và đang ở với mẹ từ trước đến nay nên cuộc sống của cháu cần có sự chăm sóc của người mẹ để đảm bảo cho sự phát triển về thể chất, tinh thần cũng như việc nuôi dưỡng của mẹ đối với con. Xuất phát từ quyền lợi mọi mặt của cháu, Hội đồng xét xử xét cần giao cháu Phạm Thị Bích N cho bà D được trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Tại phiên tòa, bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung là ý chí tự nguyện của bà nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
- Về tài sản chung: Bà D xác nhận không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
- Về nợ chung: Bà D xác định không có nợ chung nên không xem xét.
Án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, bà Lại Thị D phải chịu.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 147; khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Chấp nhận đơn kiện xin ly hôn của bà Lại Thị D đối với ông Phạm Văn T.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lại Thị D được ly hôn với ông Phạm Văn T.
2. Về con chung: Giao con Phạm Thị Bích N, sinh ngày 12/6/2012 cho bà Lại Thị D được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Ông Phạm Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bên không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích của con, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đề cập đến.
4. Án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, bà Lại Thị D phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0001570 ngày 12/4/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả T thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Ngũ Hành Sơn; - Chi cục THADS quận Ngũ Hành Sơn; - UBND xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Lâm |