- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anh Lê Huy Đ xin ly hôn chị Nguyễn Thị Tg"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đào Thị Nhung và anh Đào Công Thái.
- Căn cứ chính? Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2018/ HNGĐ-ST Ngày: 30-10-2018 V/v “ Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thủy Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Duy Năm và bà Ngô Văn Dương
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hạnh- Thư ký Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 30/10/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 257 /2018/HNGĐ - ST ngày 27 tháng 8 năm 2018 về “ Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2018/QĐST- HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Huy Đ, sinh năm 1995 ( Có mặt) Trú tại: Xóm 11, xã Hợp T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Tg , sinh năm 1995 ( Có mặt) Trú tại: Thôn 11, xã Hợp T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Lê Huy Đ trình bày giữa anh và bị đơn là chị Nguyễn Thị T đăng ký kết hôn vào ngày 27 tháng 9 năm 2016 tại UBND xã Hợp T, huyện T , tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở tự nguyện.
Quá trình chung sống với nhau vợ chồng hạnh phúc được khoảng 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Vì vậy anh, chị đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2018 đến nay, mỗi người một nơi không ai còn quan tâm đến ai. Nay anh Đ xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị T.
Về con chung: anh Đ trình bầy vợ chồng anh chị không có con chung với nhau, nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và phần nợ: Anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản khai và tại phiên tòa, bị đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày chị và anh Đ đăng ký kết hôn như anh Đ trình bày là hoàn toàn đúng. Trong cuộc sống có lúc vợ chồng có mâu thuẫn do sự khác biệt về quan điểm, thiếu sự quan tâm và động viên lẫn nhau, anh Đ có quan hệ tình cảm nam nữ với người con gái khác, nhưng chị T vẫn còn tình cảm và thương yêu anh Đ, nên chị không đồng ý ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết để vợ chồng anh, chị đoàn tụ cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình.
Về con chung: Chị T trình bầy vợ, chồng anh chị không có con chung,hiện nay chị cũng không có thai ghén gì, nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và phần nợ: Chị T thống nhất như lời khai của anh Đại, không yêu cầu tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
.Về hôn nhân: Anh Lê Huy Đ và chị Nguyễn Thị T đăng ký kết hôn vào ngày 27 tháng 9 năm 2016 tại UBND xã Hợp T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở tự nguyện, như vậy là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống với nhau vợ chồng hạnh phúc được 2 năm thì bắt đầu có những dạn nứt về tình cảm vợ chồng, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng về quan điểm sống, thiếu sự quan tâm, động viên lẫn nhau, dẫn đến vợ chồng anh, chị sống ly thân nhau từ tháng 6 năm 2018 đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh Đại đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn, chị T đề nghị Tòa án giải quyết để vợ chồng đoàn tụ cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình.
Xét mâu thuẫn vợ chồng thì thấy tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T cho rằng tình trạng hôn nhân chưa đến mức trầm trọng, chị còn thương yêu anh Đ, nhưng lại không có biện pháp để gắn kết tình cảm vợ chồng để mặc cho rạn nứt.
Vì vậy xét yêu cầu xin ly hôn của anh Đ là phù hợp. Căn cứ vào điều 51, Điều 56 luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Huy Đ.
. Về con chung: Vợ chồng anh, chị không có con chung với nhau, hiện nay chị Th không có thai ghén gì, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
.Về tài sản: Vợ chồng anh, chị không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
. Về án phí: Anh Lê Huy Đ phải chịu án phí theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, khoản 4 điều 147; Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 2 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của uỷ ban thường vụ Quốc hội, điểm 1.1, tiểu mục 1, mục II phần A danh mục mức án phí, lệ phí Toà án ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Huy Đ, xử cho anh Đại được ly hôn chị Nguyễn Thị T.
Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, không xét.
Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
Về án phí: Anh Lê Huy Đ phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí anh đã nộp tại Chi cục thi hành án huyện Triệu Sơn theo biên lai số AA/2017/0005197 ngày 24 tháng 8 năm 2018 nay trừ vào án phí ly hôn. Anh Đ đã nộp đủ.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn. Tuyên bố cho anh Lê Huy Đ và chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKS Triệu Sơn
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự -UBND xã Hợp Thắng
- Thi hành án
- Giám đốc án
- Lưu hồ sơ
Lê Thị Thủy THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Duy Năm Ngô Văn Dƣơng
Lê Thị Thủy
Lê Thị Thủy có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, áp dụng, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án. [2].Về hôn nhân: Chị Đào Thị Nhung và anh Đào Công Thái đăng ký kết hôn vào ngày 15 tháng 3 năm 2016 tại UBND xã An Nông, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở tự nguyện, như vậy là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống với nhau vợ chồng đoàn tụ hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, thường xuyên bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng hay cãi nhau, dẫn đến sống ly thân từ tháng 6 năm 2017 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, Chị Nhung và anh Thái đều thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.
Xét nguyện vọng yêu cầu được ly hôn của anh chị phù hợp với điều 55 luật hôn nhân gia đình.Vì vậy xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đào Thị Nhung và anh Đào Công Thái. [3]. Về con chung: Vợ chồng anh, chị có một con chung với nhau tên cháu là Đào Công Gia Bảo, sinh ngày 30 tháng 11 năm 2015, hiện nay cháu Bảo đang ở cùng anh Thái. Ly hôn anh, chị thỏa thuận giao cháu Gia Bảo cho anh Thái tiếp tục được nuôi dưỡng cho đến khi cháu Bảo đủ 18 tuổi, chị Nhung không phải đóng góp nuôi con chung cùng anh Thái. Vì vậy Tòa án chấp nhận sự thỏa thuận nuôi con chung giữa chị Nhung và anh Thái. [4].Về tài sản: Vợ chồng anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. [5]. Về án phí: Chị Nhung phải chịu án phí theo luật định. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 51; Điều 55; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, khoản 4 điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271,khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a, Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của uỷ ban thường vụ Quốc hội, điểm 1.1, tiểu mục 1, mục II phần A danh mục mức án phí, lệ phí Toà án ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016.
Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đào Thị Nhung và anh Đào Công Thái.
Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận nuôi con giữa chị Nhung và anh Thái như sau: Giao cháu Đào Công Gia Bảo, sinh ngày 30 tháng 11 năm 2015 cho anh Thái tiếp tục được nuôi dưỡng cho đến khi cháu Bảo đủ 18 tuổi, chị Nhung không phải đóng góp nuôi con chung cùng anh Thái.
Chị Nhung ® îc quyÒn thăm nom, ch¨m sãc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, anh Thái và các thành viên trong gia đình kh«ng ® îc ng¨n cÊm, c¶n trë. NÕu trong qu¸ tr×nh nu«i con anh Thái kh«ng ch¨m sãc chu ®¸o ¶nh h ëng ®Õn sự ph¸t triÓn søc kháe, häc tËp, sinh ho¹t cña ch¸u Bảo, thì chị Nhung cã quyÒn khëi kiÖn ®Õn Tßa ¸n yªu cÇu thay ®æi nu«i con chung.
Về tài sản: Chị Nhung, anh Thái không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
Về án phí: Chị Đào Thị Nhung phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Chi cục thi hành án huyện Triệu Sơn theo biên lai số AA/2017/0001221 ngày 5 tháng 6 năm 2018 nay trừ vào án phí ly hôn, chị Nhung đã nộp đủ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn. Tuyên bố cho chị Đào Thị Nhung được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đào Công Thái được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc ngày niêm yết bản án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Đào Đỗ Thị Hằng
Lê Thị Thủy
| Nơi nhận: - VKS Triệu Sơn - Các đương sự -UBND xã An Nông - Thi hành án - Giám đốc án - Lưu hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIEN TÒA Lê Thị Thủy |