- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Kiều M. Cho chị M được ly hôn với anh Trần Việt K.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2018/HNGĐ-ST Ngày 03 – 5 – 2018 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Càn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Châu Trung Trực.
Bà Nguyễn Kim Kết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Kim Thia là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Ngày 03 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2018/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2018 về việc “tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06 tháng 4 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 62/2018/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Kiều M; cư trú tại: Ấp C, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn: Anh Trần Việt K; cư trú tại: Ấp B, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 02 năm 2018 và lời trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn là chị Lê Kiều M thể hiện:
Về hôn nhân: Chị và anh Trần Việt K tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quách Phẩm, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau vào ngày 17 tháng 3 năm 2005. Khi về chung sống, anh K có quan hệ với người phụ nữ khác nên xảy ra mâu thuẫn không thể hòa giải, hàn gắn và đã ly thân với nhau từ ngày 01 tháng 5 năm 2014 cho đến nay. Nay chị nhận thấy giữa vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không còn đạt được và không thể quay lại chung sống nên chị xin được ly hôn với anh K.
Về con: Chị và anh Ki có 02 người con chung tên Trần Lê V và Trần Lê Lam V1 do chị đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị M yêu cầu được nuôi Lê V và giao Lam V1 cho anh K nuôi, việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét.
Tại phiên tòa, chị M rút lại yêu cầu về giải quyết việc nuôi con sau khi ly hôn, chị sẽ thỏa thuận việc này với anh K và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và nợ: Không có.
* Đối với anh Trần Việt K: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án về yêu cầu xin ly hôn của chị M, nhưng anh K không có ý kiến gì và cũng không tham gia hòa giải, xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Anh Trần Việt K được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh K là đúng quy định pháp luật.
Về hôn nhân: Chị Lê Kiều M và anh Trần Việt K tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quách Phẩm, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau vào ngày 17 tháng 3 năm 2005 nên đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
Theo chị M, khi về chung sống anh K có quan hệ với người phụ nữ khác nên xảy ra mâu thuẫn không thể hòa giải, hàn gắn và đã ly thân với nhau từ ngày 01 tháng 5 năm 2014 cho đến nay. Từ nguyên nhân đó, chị M xác định không còn tình cảm, không thể quay lại chung sống nên xin được ly hôn với anh K. Anh K không có ý kiến gì về quan hệ hôn nhân, thời gian ly thân và yêu cầu xin ly hôn của chị M.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị M, thấy rằng: Với mâu thuẫn như chị M đặt ra nhưng anh K không có ý kiến gì về nguyên nhân mâu thuẫn, thời gian ly thân và yêu cầu ly hôn của chị M và không có thiện chí tham gia việc hòa giải, xét xử tại Tòa án; điều đó cho thấy, hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị M ly hôn với anh K là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.
Về con: Chị M và anh K có 02 người con chung tên Trần Lê V và Trần Lê Lam V1 do chị M đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị M yêu cầu được nuôi Lê V và giao Lam V1 cho anh K nuôi, việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra. Anh K không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị M về vấn đề này.
Tại phiên tòa, chị M rút lại yêu cầu về giải quyết nuôi con chung, chị sẽ thỏa thuận với anh K trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Thấy rằng, việc chị M rút một phần yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ đối với yêu cầu mà chị M đã rút là phù hợp và đúng quy định của pháp luật. Trường hợp có phát sinh việc tranh chấp việc nuôi con sau khi ly hôn sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
Về tài sản và nợ: Theo chị M xác định không có; anh K không có ý kiến gì về vấn đề này nên không đặt ra xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị M phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Kiều M. Cho chị M được ly hôn với anh Trần Việt K.
- Đình chỉ yêu cầu của chị M về việc giải quyết nuôi con chung sau khi ly hôn.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Chị M phải chịu là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009590 ngày 28 tháng 02 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viển kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; - UBND xã Quách Phẩm, huyện Đầm Dơi; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Càn |