vanban.org

Bản án 87/2018/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Nguyễn Hải Đ.

Buộc chị Lê Như Kim Ph phải giao con Nguyễn Nhật Bảo Ch, sinh ngày 10-8-2014 cho anh Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Giao con Nguyễn Nhật Bảo T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Hải Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Nguyễn Hải Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 18 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH GIA LAI
Bản án số: 87/2018/HNGĐ -ST
Ngày: 29-11-2018
“V/v Tranh chấp về thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P , TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thưởng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bắc và ông Nghiêm Thế Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Hoàn là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thắng Trinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 553/2018/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2018, về việc: “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử, số: 85/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2018, và Quyết định hoãn phiên tòa, số: 75/2018/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú: Thôn 1, xã Đăk C, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Có mặt.

2. Bị đơn: Chị Lê Như Kim Ph, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú: Số nhà 20, đường Triệu Quang Phục, tổ 12, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 10-8-2018 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn anh Nguyễn Hải Đ trình bày: Anh Đ và chị Ph đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự, số: 346/2016/QĐST-HNGĐ ngày 06-9-2016 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai. Khi ly hôn, anh Đ tự nguyện giao 02 con là Nguyễn Nhật Bảo Tr, sinh ngày 27-12-2012 và Nguyễn Nhật Bảo Ch, sinh ngày 10-8-2014 cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Ph không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng cho con. Nhưng hiện nay chị Ph không đủ khả năng bảo đảm tất cả mọi mặt để nuôi con, cụ thể là chị Ph gửi con Nguyễn Nhật Bảo Tr cho anh trai của chị Ph là Lê Phan Trung H tại tổ 13, phường P, thành phố P trực tiếp chăm sóc và đưa đón đi học. Đối với con Nguyễn Nhật Bảo Ch thì chị Ph đang nhờ mẹ đẻ của chị Ph là bà Phan Thị Ng trực tiếp chăm sóc và đưa đón đi học; chị Ph đi đâu, làm gì thì anh Đ không biết. Từ đó việc chăm sóc sức khỏe và học tập của các con không được tốt. Gia đình chị Ph không tạo điều kiện cho anh Đ thực hiện quyền thăm nom con. Trầm trọng hơn, ông Lê Phan Trung H (anh trai của chị Ph) đã đăng thông tin lên Facebook vào lúc khoảng 13 giờ ngày 23 tháng 7 năm 2018, với nội dung: Ai có nhu cầu nhận con nuôi hoặc gia đình nào hiếm muộn liên hệ Facebook, tình trạng của bé hiện nay là mẹ bệnh nặng, cha lấy vợ, ông bà nội bị mù, bà ngoại già yếu nuôi không được nên đành phải cho cháu ai có điều kiện thì cưu mang giúp đỡ vì cháu đã đến tuổi mẫu giáo, vậy rất mong ai có lòng nhân đạo thì cưu mang giúp cháu.

Từ tháng 10 năm 2017 đến nay anh Đ làm giám sát bán hàng cho Công ty TNHH JUPITER FOODS Việt Nam, phụ trách khu vực Kon Tum, thu nhập ổn định hằng tháng 8.000.000 đồng. Vì vậy, anh Đ làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết giao 02 con cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu chị Ph cấp dưỡng cho con. Trường hợp khó khăn quá thì anh Đ xin nuôi một con là Nguyễn Nhật Bảo Ch, sinh ngày 10-8-2014.

Bị đơn là chị Lê Như Kim Ph trình bày tại bản tự: Theo đơn khởi kiện của anh Nguyễn Hải Đ yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, giao cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung Nguyễn Nhật Bảo Tr và Nguyễn Nhật Bảo Ch. Chị Ph không đồng ý, với những nguyên nhân sau:

Anh Đ đã không trực tiếp nuôi dưỡng con từ ngày ly hôn đến nay và không hề chu cấp nuôi con (theo trách nhiệm của một người làm cha).

Hai con là con gái nên ở với mẹ sẽ tốt hơn ở với cha cả về mặt chăm sóc vật chất lẫn tinh thần.

Từ ngày ly hôn đến nay đã 2 năm, anh Đ luôn có hành vi quấy rối chị Ph; ngăn cản, không muốn chị Ph kết hôn với người khác nên lấy con ra để đe dọa quyền nuôi và chăm sóc con nhằm muốn lôi kéo chị Ph quay lại cuộc hôn nhân với anh Đ.

Chị Ph hoàn toàn có thể chăm sóc và nuôi con một mình. Nếu trường hợp chị Ph có tái hôn thì cũng không ảnh hưởng gì đến việc chăm sóc 02 con.

Hai con từ nhỏ đã do mẹ và bà ngoại chăm sóc, nuôi dưỡng, nên việc thay đổi người chăm sóc sẽ làm thay đổi tâm lý của con, đặc biệt cả hai con đang trong giai đoạn rất cần mẹ.

Từ ngày ly hôn đến nay là 02 năm, ngoài anh Đ thỉnh thoảng thăm con, thì ông bà nội hoặc người thân họ hàng phía anh Đ chưa từng gọi điện hỏi thăm hay thăm cháu lấy một lần. Nếu thay đổi người nuôi là anh Đ, vậy con có thích nghi được mối quan hệ tình cảm mà 02 con chưa từng có hay không.

Anh Đ thường xuyên đi công tác xa, ông bà nội đã già yếu. Nếu đưa con về chăm sóc thì ai sẽ là người chăm lo cho 02 con về mọi mặt.

Chị Ph chưa từng nghe anh Đ bàn bạc thông qua ý kiến của chị Ph mà là hoàn toàn tự phát. Khi ly hôn, Tòa đã phán quyết chị Ph được toàn quyền nuôi và chăm sóc con. Trừ trường hợp chị Ph mất khả năng lao động hoặc từ chối quyền nuôi con. Chị Ph không đồng ý với bất kỳ điều kiện gì.

Tại phiên tòa:

Anh Đ trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và thống nhất với những lời khai mà anh đã khai trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án.

Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu ý kiến:

-Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”. Bị đơn thường trú tại thành phố P nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố P theo lãnh thổ và cấp xét xử.

-Về người tham gia tố tụng: Tòa án xác định đúng người tham gia tố tụng.

-Việc thu thập chứng cứ, việc cấp và tống đạt các giấy tờ cho Viện Kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

-Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.

-Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Đ, buộc chị Ph phải giao con Nguyễn Nhật Bảo Ch cho anh Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Giao con Nguyễn Nhật Bảo Tr cho chị Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Anh Đ và chị Ph không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên không xét đến. Anh Đ tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là chị Lê Như Kim Ph đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn cố tình vắng mặt đến lần thứ hai. Vì vậy, căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt bị đơn.

Quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Anh Nguyễn Hải Đ làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, nên quan hệ pháp luật có tranh chấp là: “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, quy định tại Khoản 3 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 .

Bị đơn là chị Lê Như Kim Ph hiện nay có hộ khẩu thường trú tại tổ 12, phường P, thành phố P, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố P theo loại việc, theo lãnh thổ và cấp xét xử.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Anh Đ và chị Ph đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự, số: 346/2016/QĐST-HNGĐ ngày 06-9-2016 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai. Khi ly hôn, anh Đ tự nguyện giao 02 con là Nguyễn Nhật Bảo Tr, sinh ngày 27/12/2012 và Nguyễn Nhật Bảo Ch, sinh ngày 10-8-2014 cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Ph không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng cho con.

Từ khi ly hôn cho đến cuối tháng 7 năm 2018 thì anh Đ thỉnh thoảng đến thăm nom con. Nhưng từ tháng 8 năm 2018 đến nay anh Đ không thực hiện được việc thăm nom con, vì gia đình chị Ph ngăn cản.

Biên bản xác minh đối với chính quyền địa phương nơi chị Ph và 02 con sinh sống là tổ 12, phương P cho biết rằng: Chị Lê Như Kim Ph có nơi cư trú số nhà 20, đường Triệu Quang Phục, tổ 12, phường P, thành phố P. Công việc của chị Ph hiện nay là kinh doanh thực phẩm chức năng, làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh, hằng tháng chị phượng có về nhà khoảng một đến hai lần để thăm con. Mức thu nhập của chị Phượng như thế nào thì chính quyền địa phương không biết. Hiện nay chị Ph đang gửi con Nguyễn Nhật Bảo Tr cho anh trai của chị Ph là Lê Phan Trung H tại tổ 13, phường P, thành phố P trực tiếp chăm sóc và đưa đón đi học. Đối với con Nguyễn Nhật Bảo Ch thì chị Ph đang nhờ mẹ đẻ của chị Ph là bà Phan Thị Ng trực tiếp chăm sóc và đưa đón đi học.

Biên bản lấy lời khai ngày 09/11/2018, đối với bà Phan Thị Ng là mẹ đẻ của chị Ph, cho biết: Hiện nay cháu Nguyễn Ngọc Bảo Ch được chị Ph gửi cho bà Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng từ đầu tháng 8 năm 2018 đến nay, vì chị Ph đang kinh doanh thực phẩm chức năng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thỉnh thoảng chị Ph có về nhà thăm con từ một đến hai lần và giao tiền hằng tháng cho bà Ng, mỗi tháng từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng để chi phí nuôi cháu Ch.

Biên bản lấy lời khai ngày 09/11/2018, đối với anh Lê Phan Trung H là anh ruột của chị Ph, cho biết: Hiện nay cháu Nguyễn Nhật Bảo Tr được chị Ph gửi cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng từ đầu tháng 8 năm 2018 đến nay, vì chị Ph đang kinh doanh thực phẩm chức năng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thỉnh thoảng chị Ph có về nhà thăm con từ một đến hai lần và giao tiền hằng tháng cho vợ chồng anh H, mỗi tháng 3.000.000 đồng để chi phí nuôi cháu Tr.

Anh Đ đưa ra Giấy xác nhận của Công ty TNHH JUPITER FOODS Việt Nam, chứng minh thu nhập hằng tháng của anh Đ là 8.000.000 đồng.

Chị Ph đưa ra Bảng chi tiết lương của các tháng: 7, 8 , 9 năm 2018 có đóng dấu của Công ty TNHH Y học cổ truyền Văn Anh 1 – Thành phố Hồ Chí Minh, bình quân khoảng 20.000.000 đồng trên tháng.

Như vậy, xét điều kiện về kinh tế thì anh Đ và chị Ph đều có khả năng để nuôi con.

Xét về điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con giữa chị Phượng và anh Đ, thấy rằng:

Từ tháng 8 năm 2018 đến nay, chị Ph gửi con Nguyễn Nhật Bảo Tr cho anh trai của chị Ph là Lê Phan Trung H trực tiếp chăm sóc và đưa đón đi học. Đối với con Nguyễn Nhật Bảo Ch thì chị Ph đang nhờ mẹ đẻ của chị Ph là bà Phan Thị Ng trực tiếp chăm sóc và đưa đón đi học. Tuy hằng tháng chị Ph có gửi tiền về để chi phí cho việc nuôi con, nhưng việc chị Ph gửi con cho người khác trực tiếp chăm sóc như vậy sẽ không đáp ứng được quyền của con được sống với cha mẹ, thiếu thốn tình cảm của cha, mẹ đối với con. Điều đó cho thấy chị Ph không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong Đơn trình bày, ngày 19-11-2018 của anh Đ được Uỷ ban nhân dân xã Đăk C, thành phố K xác nhận, cho thấy: Hiện nay anh Đ có hộ khẩu thường trú tại thôn 1, xã Đăk C, thành phố K, công việc ổn định và có lối sống lành mạnh.

Như vậy, anh Đ có đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Tuy nhiên, với mức thu nhập của anh Đ như hiện nay, nếu giao 02 con cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng sẽ không đáp ứng được các khoản chi phí cần thiết cho con cũng như anh Đ. Vì vậy, áp dụng Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc chị Ph phải giao con Nguyễn Nhật Bảo Ch cho anh Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Giao con Nguyễn Nhật Bảo Tr cho chị Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Anh Đ và chị Ph không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên không xét đến.

Xét yêu cầu của bị đơn: Trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, chị Ph không đưa ra được chứng cứ nào chứng minh việc anh Đ không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc bị hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên quy định tại Điều 85 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Vì vậy, yêu cầu của bị đơn về việc không giao 02 con cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng là không có căn cứ nên không được Tòa án chấp nhận.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Đ về tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thầm là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

-Căn cứ vào các Điều: 28, 35, 39, 235, 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

-Áp dụng các Điều: 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Nguyễn Hải Đ.

Buộc chị Lê Như Kim Ph phải giao con Nguyễn Nhật Bảo Ch, sinh ngày 10-8-2014 cho anh Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Giao con Nguyễn Nhật Bảo Tr cho chị Lê Như Kim Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Anh Đ không yêu cầu Tòa án buộc chị Ph cấp dưỡng cho con.

Chị Ph không yêu cầu Tòa án buộc anh Đ cấp dưỡng cho con.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định việc thay đổi mức cấp dưỡng.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: - Căn cứ vào các Điều: 144, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các Điều: 18, 26, 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Hải Đ về tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai số 0003958 ngày 10-8-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P. Anh Đ đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo: -Căn cứ vào các Điều: 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Báo cho: Anh Nguyễn Hải Đ được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án là ngày 29 tháng 11 năm 2018. Chị Lê Như Kim Ph vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án này được niêm yết hợp lệ.

6. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ