vanban.org

Bản án 87/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 24/11/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/11/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Sửa một phần bản án sơ thẩm về hình phạt

Xử phạt bị cáo Trần Văn Th 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07 tháng 7 năm 2017. Về án phí: Bị cáo không phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thế A phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự nă…"
  • Tòa quyết gì? Sửa một phần bản án sơ thẩm về hình phạt
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2017/HSPT
Ngày 28/11/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Hà Nam

Các Thẩm phán:

Bà Vũ Thị Mai Hương

Bà Mai Thị Minh Hồng

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thu Phương - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Lê Thanh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 79/2017/TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo Trần Văn Th, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 59/2017/HSST ngày 26 tháng 9 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

Bị cáo có kháng cáo.

Họ và tên: Trần Văn Th, sinh năm 1980; ĐKNKTT và chỗ ở: Xóm H, xã N1, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc T, sinh năm 1951 (đã chết) và bà Đặng Thị H, sinh năm 1957; có vợ Phạm Thị Ng, sinh năm 1990 và 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2009 bị Công an tỉnh Thái Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi buôn lậu;

Bị bắt tạm giam từ ngày 07/7/2017; (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại: Anh Lê Văn T1, sinh năm 1976; trú tại: Thôn H, xã N2, huyện N, tỉnh Nam Định. (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 19/4/2017, những người làm nghề lái xe Công nông chở nguyên vật liệu, ở các xã N2, N1, T tổ chức gặp mặt, liên hoan, tại quán thịt chó nhà ông Trường, ở thôn H, xã N1. Sau khi ăn xong, Trần Văn Th ra bàn ngồi uống nước trước, một lúc sau Lê Văn T1 đi ra, thì Th bảo T1 “Mày ngồi đây uống nước”, do T1 nhiều tuổi hơn Th nên khi thấy Th xưng hô như vậy, T1 chửi Th rồi cả hai lao vào dùng tay chân đánh nhau, được mọi người can ngăn nên cả hai không bị thương tích gì. Sau đó T1 đi về nhà trước, Th rủ anh Triệu Văn D về nhà mình uống nước, nhưng cửa nhà khóa, nên sang nhà anh Trần Đình Th1 là anh trai Th ngồi chơi.

Khoảng 20 giờ 30 phút, thấy T1 đến nhà Th gọi cửa, với mục đích để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn. Do vẫn đang còn bực tức với anh T1, nên Th lấy 01 cái kéo, để ở trên bàn máy may quần áo của nhà anh Th1, chạy ra đâm T1 nhiều nhát, vào các khu vực mặt, vai cổ và vùng bụng. Sau đó được người dân đến can ngăn, kéo Th về nhà, còn anh T1 được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Việt Đức Hà Nội từ ngày 19/4/2017 đến ngày 10/5/2017 thì ra viện, chuyển về điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định, đến ngày 12/5/2017 thì xuất viện.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 86/17TgT ngày 29/6/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Nam Định kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho anh Lê Văn T1 hiện tại là 46% (bốn mươi sáu phần trăm). Cơ chế hình thành vết thương: Vật nhọn, cứng có cạnh sắc.

Cơ quan CSĐT công an huyện Nam Trực đã thu giữ: 01 chiếc kéo inox màu trắng, dài 20cm, có chuôi nhựa màu xanh.

Bị cáo Trần Văn Th đã bồ i thườ ng và khắc phục hậu quả cho anh Lê Văn T1. Tại Cơ quan CSĐT công an huyện Nam Trực và tại phiên tòa anh T1 không đề nghị, yêu cầu bồi thường gì khác và xin giảm hình phạt cho bị cáo Trần Văn Th.

Từ nội dung trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 59/2017/HSST ngày 26/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Nam Trực đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b khoản 1, điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7, khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Th 04 (bốn) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07 tháng 7 năm 2017.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp tiền án phí và quyền kháng cáo theo quy định của phápluật.

Ngày 06/10/2017 bị cáo Trần Văn Th làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ một phần hình phạt.

Tại phiên toà: Bị cáo Trần Văn Th giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, tham gia phiên tòa đã kết luận về vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự; Sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Văn Th 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được cơ quan điều tra thu thập và qua quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, xét thấy Tòa án nhân dân huyện N đã xét xử bị cáo Trần Văn Th về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 104 BLHS là đúng người, đúng tội, không oan.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ một phần hình phạt của bị cáo Trần Văn Th, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại; người bị hại trong vụ án có đơn xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, vì vậy bị cáo đã được cấp sơ thẩm cho hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS.

Trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm bà Đặng Thị H là mẹ đẻ bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Th; với các nội dung điều kiện, hoàn cảnh gia đình khó khăn bản thân bà tuổi cao bị bệnh tim, chồng bà là ông Trần Ngọc Tỉnh tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc mầu da cam đã chết, bị cáo Th có 02 con còn nhỏ, vợ không có công ăn việc làm bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, có xác nhận của chính quyền địa phương. Vì vậy cần coi đây là tình tiết mới theo quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Từ nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận nội dung kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận cho nên bị cáo Trần Văn Th không phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

Sửa một phần bản án sơ thẩm về hình phạt

1. Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Th 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07 tháng 7 năm 2017.

2. Về án phí: Bị cáo không phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các khoản khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ