vanban.org

Bản án 87/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Hồ Thị H ly hôn với ông Lâm Văn Đ.

Về con chung: Giao Lâm Thế Th (giới tính nam) sinh ngày 19/3/2016 cho bà Hồ Thị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lâm Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Ghi nhận tự nguyện của bà Hồ Thị H về việc không yêu cầu ông Lâm Văn Đ cấp dưỡng nuôi con.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Hồ Thị H yêu cầu ly hôn với ông Lâm Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Hồ Thị H ly hôn với ông Lâm Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 9 - 2017
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phước.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Tùng và bà Phạm H Ân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Tùng Kháng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 162/2017/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 7 năm 2017, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2017/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29 tháng 8 năm 2017; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hồ Thị H, sinh năm 1995 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm N, thị trấn C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

2. Bị đơn: Ông Lâm Văn Đ, sinh năm 1995 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp R, xã R, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/7/2017, cùng các văn bản khác kèm theo và tại phiên tòa, bà Hồ Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 2015, bà (Hồ Thị H) và ông Lâm Văn Đ chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã R, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Trong thời gian chung sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nên cả hai thường hai tranh cải, một phần do cha mẹ chồng quá khó khăn. Bà và ông Đ không còn chung sống với nhau từ tháng 6 năm 2017 cho đến nay. Xét thấy cuộc sống không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên bà yêu cầu ly hôn với ông Lâm Văn Đ. Về con chung có 01 người tên Lâm Thế Th (giới tính nam) sinh ngày 19/3/2016, hiện đang do bà trực tiếp nuôi dưỡng. Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi, không yêu cầu ông Lâm Văn Đ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Lâm Văn Đ nhiều lần vắng mặt, không cung cấp lời khai chứng cứ.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận cho bà Hồ Thị H ly hôn với ông Lâm Văn Đ, về con chung giao cho bà H tiếp tục nuôi, ông Đ không cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời buộc bà H chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về quan hệ tranh chấp: Bà Hồ Thị H khởi kiện ly hôn, yêu cầu nuôi con chung đối với ông Lâm Văn Đ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về tố tụng: Tại phiên tòa ông Lâm Văn Đ vắng mặt. Căn cứ vào các tài liệu đã chứng minh ông Lâm Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với ông Lâm Văn Đ là có căn cứ.

[3]. Xét về hôn nhân, bà H và ông Đ chung sống với nhau từ năm 201N và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã R, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau chứng nhận kết hôn vào ngày 27/10/2015. Vì vậy, hôn nhân của bà H và ông Đ được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Về mâu thuẫn, bà H cho rằng cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, một phần do cha mẹ chồng khó khăn đối với bà. Ông Đ được Tòa án thông báo triệu tập hợp lệ về hòa giải, xét xử nhiều lần tuy nhiên không cung cấp lời khai chứng cứ. Qua làm việc với cha ruột của ông Đ thì được cha ông Đ xác định là ông Đ đã biết được việc và H yêu cầu ly hôn với ông Đ, ông Đ chấp nhận kết quả xét xử nhưng do công việc làm ăn ông Đ không tham dự phiên tòa. Cho thấy, hôn nhân của bà H và ông Đ không thể hàn gắn. Bà H xác định bà và ông Đ không còn chung sống với nhau từ cuối năm 2016 cho đến nay mà không thể hòa giải hàn gắn. Ông Đ đã được thông báo hợp lệ về việc bà H yêu cầu ly hôn với ông nhưng ông không cung cấp lời khai, chứng cứ, không tham gia hòa giải, xét xử. Cho thấy ông Đ không có thiện chí hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Việc bà H yêu cầu ly hôn với ông Đ là hoàn toàn có căn cứ để chấp nhận. Về con chung, bà H xác định bà và ông Đ có 01 người con chung tên là Lâm Thế Th (giới tính nam) sinh ngày 19/3/2016, hiện đang do bà trực tiếp nuôi dưỡng. Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ khi thụ lý vụ án cho đến nay ông Đ không có ý kiến gì đến việc yêu cầu nuôi con chung. Đồng thời bé Lâm Thế Th tính đến thời điểm xét xử chưa đủ 36 tháng tuổi vì vậy rất cần sự chăm sóc của người mẹ, vì vậy cần phải tiếp tục giao cho bà H nuôi dưỡng là phù hợp. Bà H không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con, xét thấy đây là sự tự nguyện nên ghi nhận là phù hợp. Về tài sản chung, nợ chung không có, đồng thời bà H không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[4]. Từ những phân tích và nhận định nêu trên xét thấy quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ để chấp nhận.

[N]. Về án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình bà Hồ Thị H phải chịu theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Hồ Thị H ly hôn với ông Lâm Văn Đ.

2. Về con chung: Giao Lâm Thế Th (giới tính nam) sinh ngày 19/3/2016 cho bà Hồ Thị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lâm Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ghi nhận tự nguyện của bà Hồ Thị H về việc không yêu cầu ông Lâm Văn Đ cấp dưỡng nuôi con.

Ông Lâm Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Hồ Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), bà H đã nộp xong tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006629, ngày 13/7/2107 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, nay chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bà Hồ Thị H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Lâm Văn Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ