vanban.org

Bản án 87/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Cao Khắc Diễm H ly hôn anh Hồ Bảo X.

Về con chung: Giao cho chị Cao Khắc Diễm H trực tiếp nuôi con Hồ Gia Bảo A, sinh ngày 20/10/2015. Anh Hồ Bảo X được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Về án phí: Chị Cao Khắc Điễm H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cao Khắc Diễm H xin ly hôn Hồ Bảo X"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Cao Khắc Diễm H ly hôn anh Hồ Bảo X.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87 /2017/HNGĐ-ST
Ngày: 10-10-2017
V/v tranh chấp: Ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thái Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Mến 2. Ông Lưu Trọng Kim -Thư ký phiên tòa: Trần Đình Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Lĩnh – Kiểm sát viên. Trong ngày 10 tháng 10 năm 2017, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xét xử sơ thẩm công khai, theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 270/2017/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 7 năm 2017, về việc tranh chấp: Ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/9/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2017/QĐST-HNGĐ ngày 26/9/2017, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Cao Khắc Diễm H, sinh năm 1997. Có mặt. Nơi cư trú: Đường ĐH, ấp VK, xã XH, huyện XL, tỉnh Đồng Nai. 2. Bị đơn: Hồ Bảo X, sinh năm 1994. Vắng mặt. Nơi cư trú: Số 36 đường số 2, thôn 8, xã ĐT, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện 15/6/2017, bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn Cao Khắc Diễm H trình bày:

Về hôn nhân: Chị H và anh Hồ Bảo X tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn vào tháng 8/2015, tại UBND xã ĐT, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẩn. Nguyên nhân là do: Anh X là người chơi bời lêu lỏng, không lo làm ăn để xây dựng cuộc sống gia đình, bao nhiêu tiền bạc trong gia đình anh X sử dụng vào việc đánh bạc, đá gà. Chị H đã nhiều lần khuyên nhủ để anh X thay đổi, cùng chị chăm lo cuộc sống cho gia đình, nhưng anh X không nghe mà còn lớn tiếng la mắn. Không chịu được cuộc sống như vậy, nên chị H bỏ về nhà cha, mẹ chị sống từ tháng 5 năm 2016 cho đến nay. Nay chị H yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Chị H và anh X có 01 con chung tên: Hồ Gia Bảo A, sinh ngày 20/10/2015, chị H yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh X cấp dưỡng.

Vợ chồng không có tài sản chung.

Do bị đơn Hồ Bảo X không đến Tòa án tham tố tụng, nên không có lời khai và ý kiến trình bày của anh X.

Qua xác minh người thân của anh X, thì bà Lê Thị Hg- Bà nội của anh X cho Tòa án biết: Bà Hg chung sống cùng nhà với anh X. Hiện tại X đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh, còn địa chỉ cụ thể thì bà Hg không biết. Các lần Tòa án gửi thông báo bà Hg đều báo lại cho X biết, nhưng X bận việc nên không về tham gia tố tụng. Đợt nghỉ lễ 2/9/2017 vừa rồi, X có về nhà và có nói lại với bà Hg rằng: Do chị H có quA hệ bất chính với người khác, bản thân X thấy không còn tình cảm với H và cũng không muốn níu kéo tình cảm với H nữa. X cũng muốn ly hôn, nhưng không thể xin nghỉ việc được, nên không tham gia các buổi làm việc tại Tòa án. Vợ chồng X kết hôn năm 2015. Sau khi kết hôn vợ chồng X sống chung với bà Hg 2- 3 tháng thì H sinh con, sinh con được khoảng 2- 3 tháng thì H ôm con bỏ đi cho đến nay.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận phát biểu ý kiến:

Phần thủ tục: Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ vụ án đúng thẩm quyền, gửi thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh và các đương sự đúng thời hạn luật định, xác định đúng quan hệ pháp luật đang tranh chấp. Đối với Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng dân sự đã quy định. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không tuân thủ đúng quyết định của pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án, thấy rằng vợ chồng chung sống với nhau không còn hạnh phúc nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H. Về con chung, chị H hiện là người nuôi dưỡng nên giao con cho chị H nuôi là phù hợp.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng bị đơn không đến tham gia, nên không tiến hành hòa giải được;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhận định như sau:

Về thủ tục: Việc khởi kiện ly hôn của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận được quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do, nên xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Giữa chị Cao Khắc Diễm H và anh Hồ Bảo X là quan hệ hôn nhân hợp pháp, nên được pháp luật bảo vệ. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân giữa anh chị không còn hạnh phúc. Theo chị H thì nguyên nhân bắt nguồn từ việc anh X không chăm lo làm ăn để xây dựng gia đình, sử dụng tài sản trong gia đình để đánh bạc, khi chị H khuyên nhủ, anh X không nghe mà con la mắn chị. Vợ chồng sau khi cưới nhau về chung sống được một thời gian ngắn chưa được 01 năm thì sống ly thân cho đến nay. Qua xác minh người thân của anh X cũng thể hiện vợ chồng sống không có hạnh phúc, hiện đã ly thân, không còn quan tâm với nhau. Thấy rằng, cuộc sống hôn nhân giữa anh chị không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là phù hợp Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị H và anh X có 01 con chung Hồ Gia Bảo A, sinh ngày 20/10/2015. Con hiện tại đang sống với chị H; chị H yêu cầu tiếp tục nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng. Xét thấy để cho chị H nuôi con là phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, vì: Con hiện mới 02 tuổi, chị H có đủ điều kiện nuôi con.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82 của Luật hôn nhân và Gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội:

Xử:

1. Về hôn nhân: Chị Cao Khắc Diễm H ly hôn anh Hồ Bảo X.

2. Về con chung: Giao cho chị Cao Khắc Diễm H trực tiếp nuôi con Hồ Gia Bảo A, sinh ngày 20/10/2015. Anh Hồ Bảo X được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Cao Khắc Điễm H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí do chị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án, số 0013179 ngày 27/7/2017. Chị H đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án (10/10/2017), bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm./-

5. Trường hợp Bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ